|
Mục Lục | Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14
VI. SÁCH DÂN TỘC
Cái gì làm nên dân tộc: tiếng nói? dòng máu? đất đai? Thưa mỗi thứ đều góp phần nhỏ phụ thuộc nhưng không phải là chính nên nhiều nước không có những yếu tố đó mà vấn là một dân tộc. Dân Suisse nói ba thứ tiếng, nước Mỹ có rất nhiều dòng tộc, Do Thái gần hai ngàn năm không có một tấc đất, thế mà vẫn là dân tộc. Vậy cái chính cốt là cái cơ sở tinh thần hướng dẫn đời sống toàn dân. Hễ cơ sở đó mạnh thì dân tộc đó mạnh dù có gặp khó khăn tới đâu rồi cũng còn hy vọng lướt thắng. Trung Hoa là một thí dụ. Đất đai bao la, dòng máu dị tạp, ngôn ngữ bất đồng… vậy mà vẫn trường tồn là nhờ có được một cơ sở tinh thần vững mạnh. Đang khi Mông Cổ đã thiết lập nổi một đế quốc rộng như chưa hề có trong lịch sử nhân loại, và đã cỡi lên đầu lên cổ dân Trung Hoa cả hàng trăm năm, vậy mà tới nay không còn góp mặt với nhân loại thì truy căn ra là vì thiếu một cơ sở tinh thần cho dân tộc. Sứ mạng của nền giáo dục quốc gia chính là gây dựng vun tưới cho cơ sở tinh thần nói trên. Nó làm thành cốt tuỷ cái gọi là huấn linh (formation) tức là huấn luyện cho dân nước có một hướng sống lý tưởng. Để chu toàn sứ mạng trên, điều cần trước hết là phải có sách dân tộc. Thiếu sách dân tộc mà nói về cơ sở tinh thần là vu vơ, lý thuyết cho vui chuyện không hiệu nghiệm chi hết. Một cơ sở tinh thần vững mạnh phải được tàng chứa trong một số sách mà mọi người trong nước đều phải quý trọng như một bảo vật, một di sản thiêng liêng do các thế hệ trước truyền lại rồi mình phải phát huy để sống và để truyền lại cho con cháu. Lý do tồn tại của bộ giáo dục nằm ở đó, nên việc phải lưu ý trước hết là sách dân tộc. Mà đã là sách dân tộc thì phải gồm một số lớn kinh điển. Để một sách đáng gọi là kinh điển cần hội mấy điều kiện sau đây:
Trước hết là phải đặt nền trên nhân bản, tức là những sách y cứ trên tính lý đại đồng có thể bất cứ ai và đời nào cũng suy cứu ngay nơi lòng mình mà khỏi cần quy chiếu đi đâu hết. Bởi vì một khi đã phải tìm tiêu chuẩn bên ngoài con người thì không còn là nhân bản, nên cũng không thể ăn rễ sâu xa vào lòng con người, không thể giúp nó phát triển hết mọi khả năng tiềm ẩn. Văn hóa La Hy thiếu sách dân tộc vì đã không đáp ứng được điều kiện tiên quyết này. Có lẽ thất hiền của họ là nhân bản nhưng đã thất lạc, chỉ còn lại có thần thoại, tất nhiên không phải là nhân bản, nên không thể dùng làm sách kinh điển.
Điểm thứ hai sách kinh điển phải có tính chất tâm linh (mumen), đó là hệ luận do nhân bản. Nhân bản phải hiểu theo nghĩa tiến hóa, lên mãi mãi cho đến chỗ siêu việt phổ biến, chỉ có nơi đó mới có giải phóng đích thực, thiếu nó một sách có hay đến đâu cũng chỉ thỏa mãn được có tuổi trẻ, lúc đang cần bác vấn học hỏi thì cái chi cũng có thể lưu ý, nhưng ít lâu sẽ chán. Chỉ khi nào sách bao hàm tính cách tâm linh thì tuổi già cũng phải ưa, càng vươn lên càng thấy thênh thang càng muốn tiến, vì nó có cái gì siêu phàm: lôi kéo để vượt lên nữa đặng tới chỗ Uyên Nguyên. Vì thế yếu tố tâm linh đưa lại cho sách một tinh chất vạn niên thanh nghĩa là nhập vào con người muôn thưở không lúc nào cũ, luôn luôn mới, vì thế mà lối văn kinh điển phải u linh, có u mới linh nói như Otto trong quyển sách thời danh “Le sacré” định nghĩa u linh là “tremendum et fascinans”: “huyền bí đáng sợ nhưng lại lôi cuốn”. Huyền bí vì không thấy bờ thấy đáy, nên gây một thứ rờn rợn khi tới gần. Nhưng là thứ sợ nhiệm màu gây niềm cũnng kính và lôi cuốn. Các sách triết học cổ điển của La Hy tuy đã cố đi vào Nhân bản nhưng đó là những sách duy trí nên rõ ràng khúc chiết, và quá hệ thống nên gạt ra ngoài tất cả những gì âm u ngoại lý, vì thế chỉ hợp cho một giai đoạn: giai đoạn vươn lên của lý trí các độc chiếm mà không hợp cho con người mọi đời vừa có lý trí vừa có cái gì u ẩn man mác mà ta gọi là tâm linh. Vì thế đó là lý do thứ hai tại sao văn hóa La Hy thiếu sách kinh điển, nên cơ sở tinh thần rất hời hợt phù phiếm, chỉ quanh quẩn ở đợt luật pháp, lợi hành mà thôi.
Điều kiện thứ ba cũng là hệ luận của điểm thứ hai là giải phóng. Tâm linh chân thực bao hàm giải phóng tính tức là tính chất dung nạp tất cả những cái gì mới mẻ hợp thời. Đó chính là bảo chứng của sự giải phóng, của sự sống mạnh. Khả năng thâu hóa càng giàu thì càng sống mạnh. Để được như thế thì kinh điển hầu hết phải dừng lại trên đợt minh triết uyên nguyên (sagesse principielle) tiêu biểu cho nền thống nhất nhưng không được đốc ra đồng nhất nghĩa là không được đi vào những xác định chi tiết, là những cái rất chóng lỗi thời và dễ xâm nhập vào tự do cũng như dễ cướp trách nhiệm của cá nhân. Chỉ có cá nhân mới đủ thẩm quyền đưa ra những quyết định tư riêng tuỳ theo hoàn cảnh bất cứ ai và nhân danh bất cứ thế lực nào để đưa ra những xác định chi li để tròng lên đầu lên cổ người khác là đã xâm phạm tự do, lấp đường giải phóng và làm tê liệt sự phát triển nhân cách con người. Vì thế sách kinh điển phải có tính cách giải phóng, và dấu hiệu là lối văn âm u không gãy gọn, để dễ bề linh hoạt các nền triết lý sẽ tự nó lần lượt xuất hiện qua các đời cũng như tuỳ theo tính khí riêng của từng tác giả. Lối văn mung lung đem lại cho kinh điển uyển chuyển tính cần thiết cho những cái gì làm nền móng tâm linh.
Điều kiện thứ tư là phải có yếu tố bình dân nghĩa là toàn dân trong nước ai cũng có thể tham dự phần nào. Vì dân tộc phải là nhân tộc, nên không được hạn cục vào một lớp trưởng giả như kiểu La Hy xưa. Sách chỉ duy có tinh thần trưởng giả sẽ đào hố sâu giữa thiểu số đặc ân và đại chúng đứng ngoài, như thế là trái ngược hẳn với sứ mạng của sách dân tộc là nhằm thống nhất toàn dân trong một cơ cấu tinh thần chung. Điểm này cũng thiếu cho các sách cổ điển La Hy xưa và sách triết học của Tây Âu hiện đại: càng ngày càng đi sâu vào con đường trưởng giả nghĩa là hóc búa bề bộn những chữ cùng nghĩa: mỗi người mỗi cố làm cho “đặc thù”, đến nỗi danh tư đánh mất chức năng truyền, chỉ còn có một số trí thức nhỏ xíu có thể hiểu được mà thôi.
Điểm thứ năm là lâu đời. Lâu đời cũng rất quan trọng bởi dân tộc khác đại chúng ở chỗ nó có lịch sử, có di sản tinh thần, có sách của tổ tiên đã học trối lại, mà sách đó có đủ điều kiện thì là cái may cho nó, vì sách sẽ như được bao phủ trong quầng sáng thiêng liêng, có uy tín mầu nhiệm do tiềm thức tích lũy. Dân tộc Việt Nam thí dụ, không phải chỉ có từ nhà Trần, mà trong nôi của nó là Hồ Động Đình, là bờ sông Dương Tử, từ cái lúc chìm trong âm u của dĩ vãng ấy, lúc mà dân tộc còn đang ở tuổi thơ còn bập bẹ nên gọi là thời tiền ngôn tiền niệm, nên những lời nói còn rất mung lung, thứ mung lung mềm dẻo mang theo rất nhiều khả năng biến hóa vì thế dân tộc nào đã thiếu sách kinh diển thì không làm sao có được. Vì các đời sau có thể nảy sinh thiên tài viết những sách hay hơn, sâu sắc hơn nhưng âm u thơ ấu thì hết thời rồi. Vì lẽ đó kinh điển rất đáng quý trọng. Người mình hình như chưa nhận thức ra điều đó. Người Mỹ hỏi người Anh cái sân cỏ của bác có bao lâu rồi? “Hai ngàn năm”. Câu thưa được dằn từng tiếng để chú Sam đừng có lên mặt với cái nhà của chú, dầu có chọc trời cũng mới được nửa thế kỷ chứ gì? Ai đã sống bên Tây Âu không thể không nhận thấy lòng tôn sùng những cái gì cổ kính: đền đài, cung điện, nghệ phẩm… Họ đã văn minh đã tiến bộ nên không bị mặc cảm như các dân tộc chậm tiến, vì chậm tiến nên phải làm ra vẻ ta là có óc tân tiến, không thèm ngó đến những cái xưa. Dân Anh chính vì đã dẫn đầu Âu Châu trong việc kỹ nghệ hóa nên cũng là dân bảo cổ hơn hết. Vậy thì chúng ta không nên ngại nhưng nên hãnh diễn vì những cái gì đã có lâu đời, khi cái đó không cản bước tiến của ta.
Đó là mấy tiêu chuẩn nhằm quy định thế nào là sách kinh điển và thế nào là sách dân tộc, tức cũng là quy định thế nào là cơ sở tinh thần hướng dẫn đời sống những dân nào muốn có nền văn hóa mạnh. Những tiêu chuẩn trên đây chúng tôi đã suy diễn từ tiếng nói lương tri của dân tộc qua mấy lần hội thảo về giáo dục, thí dụ phải có tính cách dân tộc, giải phóng, nhân bản, khoa học v.v… Đó là những tiếng nói phải lẽ, nhưng vì mới là cái lẽ của lương tri chưa đủ sâu để đưa ra được một giải pháp, hay một chương trình. Tuy thế vẫn còn giá trị để chúng ta dùng làm tiêu điểm và quyết định ngôi thứ trong các sách dân tộc. Tiền nhân ta nhận ra: kinh, sử, tử, truyện. Ta vẫn có thể theo thứ tự đó để đặt lên đầu sổ các sách dân tộc là kinh điển, tức là những sách ứng đáp được tất cả năm tiêu chuẩn vừa đưa ra ở trên, sách đã được thế thì cần phải tôn trọng như là kho tàng chứa chất kinh nghiệm của muôn thế hệ, đã được đúc kết lại trong những câu văn cổ kính y như người theo tôn giáo kính trọng kinh thánh. Nhưng nó không là kinh thánh. Với kinh thánh chỉ phải chấp nhận tin theo không được cãi lại, với kinh điển thì không thế mà chỉ sợ không đủ sức cãi lại nghĩa là kinh điển không cản trở còn giúp phát triển thêm óc phê phán minh biện nữa, vì thế nó lại giống triết lý ở chỗ đó. Nhưng triết lý phải xếp ở đợt nhì là truyện theo nghĩa riêng ở đây (kinh, sử, tử, truyện) tức là những sách bàn về đạo lý hàm chứa trong kinh điển bằng đưa ra một số khía cạnh nào đó và bàn cho xác đáng và có lý giải, vì thế triết lý không đáp ứng đủ năm điều kiện trên kia thí dụ lối văn có luận chứng gãy gọn hệ thống, chứ không phải là lối văn âm u hàm hồ của kinh điển.
Về thời gian thì triết lý thường xuất hiện về sau không bao gồm được những thế hệ xa xưa như kinh điển. Vì thế kinh điển có một, còn triết lý có nhiều: mỗi giai đoạn cần có triết lý mới. Viễn Đông đã có những nền triết lý của Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng Thư đời Hán, rồi Chu, Trình đời Tống, và Vương Dương Minh v.v… Khi triết lý không y cứ trên kinh điển thì thường bàn tùm lum những vấn đề ngoài thân tâm con người và ta sẽ gọi là triết học, thí dụ triết học duy niệm của Tây Âu. Sau triết lý là văn chương như thơ, phú, tiểu thuyết, tuồng, kịch… nó có nhiệm vụ nhắc nhỡ đến đạo lý cho người đã học và đang bàn những việc khác không còn thì giờ rảnh rỗi để mà học hay đúng hơn là đã học rồi, học về căn bản, nay nhờ văn chương phát triển hộ một số khía cạnh nào đó, một cách hợp cho người bàn việc không thể dồn chú ý vào các sách vở như thời kỳ đi học nữa. Vì thế phương thế văn hóa phải khác hẳn sách văn học. Sách văn học cần trình bày cách hệ thống sáng sủa nếu cần thì có thể khắc khổ, khi cần “lên mặt” dạy đời thì phải “lên mặt”. Ngược lại văn chương vì thuộc văn hóa hâu trường thì không được “lên mặt dạy đời”, nhưng phải để cho sự kiện nói nghĩa là vẫn phải dạy đời, không dạy thì viết làm gì, đừng ngây thơ mà tin là không, nhưng phải tế nhị, phải dấu biến cái “mặt dạy đời” đàng sau mớ sự kiện. Và cho được như thế thì cần phải tránh lối văn khắc khổ, giáo khoa, nhưng phải nghệ thuật nghĩa là biết dùng những câu nói khéo, những ý tưởng đẹp mà lôi cuốn. Vì đã hết giai đoạn “không thuộc bài là đét”. Ở văn chương không đét được, hết quyền bắt buộc, phải dùng đến duyên dáng quyến rũ, gọi là nghệ thuật nói năng khéo léo làm cho người nghe, người đọc tự hiểu lấy do lối tả người tả cảnh, bày liệt tình tiết sao cho éo le gay cấn hồi hộp khiến ngừơi đọc mê say tự tìm đọc rồi nó thấm dần vào. Cũng chính vì thế văn nghệ phải biến đổi dạng thức luôn. Phải nhiều óc “sáng tạo” theo nghĩa nhẹ là “đổi mới các dạng thức”. Vì thế văn nghệ năng thay đổi hơn triết. Văn nghệ đổi mười, triết chỉ đổi một hai còn kinh điển không thay đổi bao giờ. Thí dụ con cháu ta sau đây năm trăm năm cũng vẫn còn học một kinh điển như ta, nhưng triết lý đã đổi một lần, còn văn chương có thể đã đổi mười lần. Đến năm ba ngàn con cháu chúng ta cũng vẫn học kinh điển như nay nhưng triết học đã đổi hai lần còn văn chương đã đổi dạng đến hai mươi lần chưa biết chừng. Vì thế mà kinh điển là sợi dây nối kết các thế hệ khác xa nhau rất nhiều. Mỗi lần đổi thì các tác phẩm văn chương đã thành công mỹ mãn sẽ trở thành cổ điển là sách của dân tộc nhưng dành cho những nhà chuyên môn không thể bắt toàn dân học. Vì sức học có cùng thí dụ năm quyển. Hiện nay ta có mười sách cổ điển thì năm quyển phải bỏ lại cho các nhà chuyên môn. Ba ngàn năm sau ta sẽ có hai mươi, ba mươi cổ điển nữa thí có mười lăm hay hai mươi lăm cổ điển chỉ dành cho chuyên môn mà thôi. Điều này cần được nói lên để phòng sự tham lam của các nhà thiết lập chương trình ít quan tâm đến khả năng thâu nhận có hạn của trẻ em. Một khi áng văn nào đạt mức nghệ thuật tuyệt vời thì đáng được liệt vào hàng cổ điển. Âu Châu giàu cổ điển: Homère, Sophocle, Dante, Goethe, Molière… Bên ta có Kiều, Chinh phụ ngâm, Tản Đà, Nguyễn Công Trứ… Như thế phạm vi sách dân tộc rộng hơn kinh điển, vì nó gồm cả sử, tử, truyện, đang khi kinh điển chỉ là loại đầu, tức là Kinh. Sự phân biệt Kinh, Truyện rất quan trọng giúp giải quyết thắc mắc giữa tiến hóa và truyền thống có mâu thuẫn chăng. Và ta thấy là không. Về phía cần trung thành với truyền thống đã có kinh, còn phía tiến hóa theo thời đã có truyện tức triết lý và văn nghệ. Như vậy là ta yên lòng đi vào việc xét lại chương trình. Đã biết tiêu chuẩn và mức độ cần ứng hợp để một sách trở thành sách kinh điển và sách dân tộc, bây giờ ta đem ra so đo với những sách đã đượt đưa vào chương trình để xem những sách nào là của dân tộc và ở đợt nào.
Chúng ta thấy liền là hiện chương trình ta thiếu Kinh và Truyện hiểu là minh triết và triết lý, mà mới chỉ có triết học và cổ điển nghĩa là không khác chương trình của Tây mấy tí, nên cũng phải kể là nền giáo dục thiếu bản chất. Và điều cần phải sửa lại là phải đưa kinh điển và triết lý vào. Đưa vào theo lối sách dân tộc nghĩa là hết mọi người phải học tức là từ đợt trung tiểu học.
Những sách nào sẽ là kinh điển. Ta chỉ có thể kể là kinh điển một số truyền kỳ thuộc thời Hồng Bàng ở mấy quyển như “Lĩnh nam trích quái” hoặc trong “Việt điện u linh tập”. Và mấy tập truyện có tính chất u linh huyền ảo khác trích trong “Truyền kỳ mạn lục” thí dụ truyện Từ Thức… Riêng 14 truyện đầu trong Lĩnh nam trích quái phải coi là di sản cao quý nhất đầy ứ ý nghĩa thâm sâu. Chúng tôi sẽ nói tới trong quyển Dịch kinh linh thể. Đấy phải là Kinh. Còn có thể là Kinh một số ca dao ngạn ngữ, một số những bài thơ đã được truyền tụng nhiều, một số bài hát phổ cập… sẽ do một uỷ ban lựa chọn thâu góp vào làm thành một thứ Kinh thi Việt Nam.
Quyển thứ ba thuộc truyện sẽ là “Việt sử ca”… nên dùng làm sách vở tối thiếu chung cho toàn dân về lịch sử nói đến nguồn gốc của dân tộc cho nên cần có một bản văn làm nền hết mọi người đều học y như nhau ngay về câu văn. Đó là điều rất tốt để củng cố “mối tình giáo khoa thư”. Ai cũng phải công nhận thơ về sử được như vậy cũng là cao rồi. Không nên đưa ý kiến về lối kết cấu, về quan niệm sử ở đây mà chê bai. Đấy chỉ là việc của Đại học. Còn đây chỉ cần một bản văn và một số biến cố quan trọng là đủ. Đó là mấy quyển hiện có trong chương trình nay. Như thế là còn thiếu, cần phải có dăm quyển nữa mới đủ làm nên một cơ sở tinh thần. Bây giờ đi tìm ở đâu? Ở Âu Châu? Không thể, vì họ không có. Mượn của Ấn Độ? Cũng không được vì Ấn Độ có sách dân tộc như Upanishads, và hai anh hùng ca vĩ đại v.v… Nhưng tất cả còn mang quá nhiều màu sắc tôn giáo Veda, nên sẽ còn bị khủng hoảng để tẩy rửa thêm và nhất là tất cả còn mang tính chất vô vi quá nặng không thể hợp cho dân nước ta đã lâu ngày sống trong bầu không khí Nho giáo đầy hoạt lực. Như vậy chúng ta chỉ còn nhìn về phía Nho giáo để tìm hiểu thêm kinh điển. Sở dĩ phải đi từ xa để trở về với bạn cũ vì chúng ta đã ngộ nhận Nho giáo là của Tàu, nhưng thực là của chung các dân Viễn Đông mà Bách Việt đã đóng góp một phần quan trọng trong việc hình thành các kinh đó (xem quyển Việt lý tố nguyên). Nhưng dầu có nghĩ sao về phần đóng góp đi nữa thì cũng không ai chối cãi được đó là những sách đã hướng dẫn cuộc sống của dân nước ta ít nhất từ hơn hai chục thế kỷ, nên trở lại nhận các sách Nho giáo làm sách dân tộc là trở lại với cái di sản cố cựu quen thuộc và đáp ứng được tất cả năm tiêu điểm của một sách kinh. Đó là điều chúng tôi đã trình bày nhiều nơi. Ở đây xin đưa ra một hai nhân chứng. Ông W.Durant cho những kinh điển của ta là một phần hương hỏa quý nhất mà Viễn Đông hiến cho thế giới (la portion la plus précieuse de legs fait au monde par la Chine – xin hiểu Trung hoa Xuân Thu là gốc văn hóa của Viễn Đông. Civ. III.p.74) và ông nguyện ước “độc giả hãy bắt chước Goethe, Voltaire, và Tolstoi khởi công học thẳng vào chính văn” (id 75).
Hai quyển Đại học và Trung dung, ông Masson Oursel cho là “vắn quá không đủ làm một sách nhưng đủ để cống hiến cho thế giới một trong những nguồn cảm hứng phong phú nhất” (a offert au monde une des plus fécondes révélations. Philosophie Orientale p.130).
Và tôi chỉ ghi chú điểm này, thế kỷ trước khoa học và triết học Tây phương đều đồng tình hạ giá kinh điển Đông phương, trái lại từ mấy chục năm nay lại chính khoa học và triết lý hiện đại đồng tình đưa triết Đông phương lên. Giới trí thức nước nhà hầu hết còn đang lúng túng trong trào lưu trước, họa mới thấy một hai người hé thấy gió đã đổi chiều. Nó hơi khó nhận ra bởi chính Tây phương không có ý đưa triết lý Đông phương lên, họ chỉ đi tìm chân lý, và nhân đó họ gặp Đông phương. Ông Durant ngạc nhiên sau bao biến thiên do khoa học gây ra, lại thấy tư tưởng của Khổng Tử có thể trở nên hướng đạo cho ta (Tây Âu) không cần phải sửa đổi mấy “un penseur dont la sagesse pleine de mesure n’a guère à subir de modification pour devenir notre propre guide et pour servir d’inspiratrice aux meilleurs d’entre nos hommes d’etat” (Civ. III. P.357).
Chỉ vài nhân chứng đủ cho ta nhận ra các sách mà tổ tiên ta đã học, học từ hơn hai ngàn năm nay vẫn còn khả năng thỏa đáp được các điều kiện chúng ta đưa ra. Vậy tại sao chúng ta lại đẩy ra khỏi chương trình.
Thật ra không phải ta loại ra mà do thực dân đẩy ra, khi đem cái học mới vào. Họ làm thế, vì một đàng họ không hiểu được ta nên họ theo cái lý của họ. Còn ta tưởng theo họ là tiến. Những trong cái tiến phải có cái hằng. Tiến đến đâu cũng phải có liên lạc với tổ tiên mới là dân tộc. Điều đó rất cần được chú trọng, không nên vì quá mải tiến mà mất liên lạc với tiền nhân. Khi ta mới thâu hồi độc lập thì còn bề bộn nhiều việc cấp bách quá nên chưa nhận ra. Nay ta xét lại để cải thiện thêm. Trong số kinh điển cũ là Tứ thư và Ngũ kinh ta nhận thấy, kinh Xuân thu vì đã chứa nhiều yếu tố Hán nho thì thôi, chỉ nên để làm sách tham khảo cho đại học và văn học. Kinh Thi có thể chọn làm kinh điển của ta vì chứa rất nhiều tư tuởng nòng cốt, nên có thể lựa lấy chừng một phần ba, tư gì đó. Riêng phần quốc phong đại diện cho tiếng nói hồn nhiên nhất của dân tộc lúc sơ khai, nên lựa lấy năm chục bài để hợp với chừng ấy bài nữa trong tiếng Việt và một số câu đồng diêu của ta để làm kinh Thi. Kinh Lễ có thể chọn một hai chương tiêu biểu thí dụ Nguyệt lệnh.
Rồi đến sách Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Kinh dịch (lấy hai quẻ Càn Khôn và Hệ từ thượng hạ) Đạo đức kinh… Chúng ta chọn mấy sách này làm kinh vì tất cả đáp ứng hết mọi tiêu chuẩn trên kia, nhưng trên hết là nhân bản, một nền nhân bản tinh tuyền, hòa hợp mà ngày nay nhân loại bắt đầu nhìn nhận ra giá trị (xin xem quyển Nhân Bản). Đấy là chỗ may mắn hết sức cho nước ta vậy.
Một điểm nữa cũng nên nhắc đến là tinh thần tâm linh. Đây là điểm đặc sắc riêng biệt cho các sách kinh điển Đông phương mà Tây phương khởi đầu cảm thấy thiếu một cách dữ tợn. Bên đó chỉ có duy linh tức chỉ có linh thiêng bên ngoài và bên trên đời sống, còn đây là tâm linh ăn ngầm ngay trong đời sống nên nó không kềnh cơi, không cần chỗ riêng để ở, nhưng không đâu không ở. Chính nhờ đó mà sau thời gian chấp chính hoạt động ngoài đời, Nho giáo trở lại vẫn thấy lòng lưu luyến và thiết tha với văn học, tìm thấy trong đó cả một nguồn hứng khởi để “lạc đạo”. Trái hẳn với hiện nay bên Âu Châu người ta chán văn hóa (xem bài Khủng hoảng tinh thần) là bởi nó chỉ đậu lại ở đợt thẩm mỹ (như văn nghệ dù là cổ điển) mà không đi lên cao siêu là minh triết, theo với đà tiến của tâm thức con người. Vì hạn cục ở duy lý nên chỉ gây thích thú được đến quãng ba mươi bốn mươi tuổi, sau đó phải có cái gì u linh sâu thẳm mới đáp ứng được những nguyện vọng mới thường xuất hiện vào quãng bốn mươi, năm mươi tuổi gọi là tuổi triết lý. Từ đấy những sách thuần văn chương hay triết học duy lý không còn đủ sức lưu khách nữa. Sỡ dĩ kinh điển của Nho giáo vẫn lưu được khách vì khi một người nào cảm nghiệm được sẽ thấy mở ra trong đó cả một chân trời bao la bát ngát với những khả năng vô biên vượt thời gian, không gian; nên xưa hứng khởi mà nay vẫn thấy hứng khởi. Không cứ gì Đông mà cả Tây cũng thế, những hạng đại tư tưởng đi vào liền thấy; họ là một Tolstoi, một Goethe, một Leibnitz, một Wolf… biết bao người khác như hai nhà bác học Ely Carcassonne và Hackin đã được kinh điển Đông phương cảm hóa đến trình độ xuất hiện như những sức mạnh thiêng liêng sống động đặt ra trước lương tâm Châu Âu (Rencontre du Boudhisme avec l’Occident của linh mục Henri de Lubac). Đó chỉ là vài thí dụ lấy trong biết bao nhiêu trường hợp đang thêm đông mỗi ngày. |