|
Mục Lục | Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14
X. VIỆT VĂN LÀ CHƯƠNG TRÌNH VIỆT
BÀN VỀ TIẾNG VIỆT VÀ VĂN CHƯƠNG VIỆT
Từ ngày nước ta khôi phục lại được nền độc lập thì tiếng Việt cũng như văn chương đã chiếm một chỗ ngồi lớn trong chương trình giáo dục. Ai cũng tưởng rằng phải làm như thế mới là thâu hồi nền độc lập văn hóa, kỳ thực đó chỉ là một sự tiếp nối ảnh hưởng của thực dân và dìm nền văn hóa dân tộc xuống sâu thêm một độ, nghĩa là làm cho giáo dục và văn hóa trở thành nông cạn phù phiếm.
Tại sao lại nói lạ vậy? Thưa vì cóp chương trình Tây. Thấy tây cho học tiếng Tây và văn chương Tây thì chương trình Việt cũng bắt chước dạy tiếng Việt với văn chương Việt.
Trước hết ta hỏi tại sao Tây lại dạy tiếng Tây. Có hai lý do, một chính đáng, một trưởng giả. Lý do chính đáng vì tiếng Tây rất khó, ngữ luật ngoắt ngoéo, động từ có nhiều thời, nhiều hình thức và nhất là lối viết chứa đầy những cái vô lý nên đọc một đàng viết một nẻo, khiến cho sự học viết trở nên khó khăn, có những người học đến trung học mà viết còn sai. Vậy Tây cần phải học tiếng và học viết thì phải lý. Hai điều đó không có trong tiếng Việt thì việc chi phải mất nhiều giờ dạy tiếng Việt vì tiếng Việt đã được dạy từ lúc đang còn bú mẹ, và liên tiếp trong đời sống thường ngày, đến lúc vào trường lại còn được dùng làm chuyển ngữ, như vậy là đủ để trẻ biết sử dụng được tiếng Việt. Chúng ta chỉ cần nhớ lại những người như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Thanh Quan, Tản Đà v.v… có bao giờ học tiếng Việt ở trường đâu, vì học đã quá đủ trong đời sống, để có thể làm văn, nhất là viết được những sách đáng đọc thì còn nhiều cái khác cần phải học và khó gấp bội tiếng nói. Cho nên ví thử có một người nào phải nhờ nhà trường dạy cho hết cấp tiểu học lên trung rồi đại học mới viết được câu văn thì những điều học viết ra đáng vứt sọt rác. Đã nhiều lần được nghe một số giáo sư Việt văn than phiền vì học sinh hay cả sinh viên không viết nổi một câu văn. Sự thực thì những người than đó đã không nhận xét những điểm sau đây:
Thứ nhất là câu văn viết sai đó là sai với cái chi? nếu tra cứu thấu đáo thì là sai với quan niệm đúng hay hỏng, đẹp hay xấu của riêng người than, mà không biết rằng tiếng nói là một hiện tượng sống nó luôn luôn biến chuyển. Cho nên khi ông nói sai là ông quy chiếu vào một luật tắc, một lối xếp đặt câu hay một số thành ngữ của ngoại ngữ đang được thịnh hành, nhưng rất tương đối có thể sai đối với cũ nhưng đúng hay sẽ đúng với quy tắc mới. “Tâu bệ hạ” chính nghĩa là dưới thềm, nhưng thói quen đã phong cho nghĩa là vua. Octobre chính nghĩa là tháng 8, nhưng thói quen phong cho là tháng 10, lúc mới nói “xin lưu ý quý vị…” thì nhà giáo nào mà không cho là sai nhưng rồi nay là “đúng” nghĩa là đang được dùng nhiều. Tóm tắt là viết văn đúng chỉ là chuyện thuộc nghệ thuật, nên rất uyển chuyển có 36 lối viết khác nhau nên rất không nên tuyệt đối hóa một hai lối để rồi lên án các lối khác là sai: mỗi người mỗi lỗi, không thấy được thế là cận thị.
Điều thứ hai: hiện cái mà nước nhà đang thiếu hơn hết là người tài đức, chứ không phải người viết hay nói khéo, nói khéo không thừa thì ít nhất không thiếu, vậy thầy giáo than phiền vì học trò không biết viết văn, tỏ ra không xét thực tế của nước nhà, mà chỉ bắt chước người Hy Lạp, Tây Âu đặt trọng tâm giáo dục vào việc trau chuốt lời nói câu văn. Họ đi theo thứ tự ngôn, công, đức. Đông phương cổ đại theo bực thang giá trị ngược hẳn lại là đức, công, ngôn (thái nhất lập đức, kỳ thứ lập công, kỳ thứ lập ngôn) ta nên theo thứ tự nào. Đây là vấn đề quan trọng, nên bàn kỹ hơn một chữ, bởi vì không những Âu Tây trọng văn chương từ ngữ mà chính Viễn Đông từ đời Hán cũng thế, chúng ta có nên tiếp tục như nay đề cao lời nói chăng?
Xét chung quá trình tiến hóa của tâm thức con người ta có thể nhận ra được 4 chặng là chủ từ, chủ ý, chủ tri, chủ thể.
Chủ từ là giai đoạn nhân loại tôn thờ lời nói, có lẽ vì mới phát minh ra ngôn ngữ chăng, con người như bị thôi miên do ma lực của lời nói (puissance magique du mot…). Vì thế đây là giai đoạn phát xuất của những câu ếm chú, phù chú: quy cho lời nói một thần lực vạn năng… Kế đó là giai đoạn chủ ý khi đã chân nhận ra rằng ngôn từ không có thần lực như lúc đầu ngây thơ gán cho nên đem quan trọng đặt vào ý niệm, tôn trọng ý tưởng, quy giá trị quá mức cho ý tưởng gọi là duy niệm (conceptualisme) tiếp sau chủ từ (nominalisme). Nhưng khi đã tiến đến nhiều thì nhận ra ý niệm cũng không có khả năng được gán cho, nên bước vào giai đoạn ba là chủ tri gán cho trí phán đoán con người một giá trị thẩm phán tối hậu. Nhưng giai đoạn này sẽ được vượt qua lúc con người khởi đầu nghi ngờ khả năng tri thức của con người, nên cố vượt qua để vươn tới con người toàn diện gọi là chủ thể thay cho giai đoạn chủ tri chỉ chú ý có mặt tri thức. Đó là những chặng trong quá trình tiến triển của tâm thức nhân loại. Những chặng này của nhân tộc sẽ được mỗi cá nhân lặp lại hầu y nguyên, lúc nhỏ ưa thích văn chương ưa lời nói đẹp không thấy gì khác; lớn lên ưa lý sự, cho lý sự là cao nhất; nhưng cuối cùng phải vượt lý sự để tìm cái thâm sâu hơn, thiết cận đến thâm tâm (chủ ý và chủ thể).
Những người đã lớn tuổi trong chúng ta cũng có thể nhận chân lại các chặng tiến đó trong đời mình, cho tới khoảng 15 tuổi trở lại chúng ta thích những câu văn hoa mỹ. Viết thư tết nhất định phải có hoa phơi sắc, chi đua ca… cả một trang dài. Nhưng đến 20 tuổi trở đi thì những lời văn đó không đủ lưu luyến ta nữa (trừ khi phải dạy văn chương thì khác!) và chúng ta chú ý đến tư tưởng, lý luận, biện chứng, rồi sau 30, 40 tuổi trở đi thì lý luận lại xuống giá nhường bước cho những cái nhìn trực giác thâm sâu v.v…
Chương trình giáo dục Tây Âu chính vì quá đặt nặng trên lời nói (văn chương tiểu thuyết) nên không đủ khả năng lưu khách là do lẽ đó.
Căn cứ vào luật tâm lý trên chúng ta có thể kết luận cần theo truyền thống Tiên Nho hơn là theo Hán Nho hay Tây học, tức chương trình nên đặt trọng tâm ở đức, đạo lý hơn là ở những lời hoa mỹ mà nội dung rất tầm thường. Như vậy mới là yêu nước cách chân thực. Có thể nói chính vì lòng ái quốc vội vàng mà những người bênh vực tiếng Việt và văn chương Việt đã đóng góp phần quan trọng vào việc Tây hóa chương trình giáo dục tức làm cho nền giáo dục hế bản chất và hướng sống, thế mà lại thua hẳn chương trình Tây. Chương trình Tây ngoài những cái nổi vượt tuỳ phu (trường sở rộng, sách giáo khoa đầy đủ, lớp không quá đông…) thì còn hơn được sự thành thạo tiếng Pháp. Mà đó là một ơn ích quan trọng cho đời sống mới hiện nay mà chương trình Việt đã không cung ứng được. Vì thế khi một học sinh chương trình Pháp muốn nhảy sang chương trình Việt thì rất dễ, vì tiếng Việt em đã nói hằng ngày chỉ cần bỏ ra vài tháng đọc mấy quyển văn chương là theo được lớp như thường. Ngược lại từ chương trình Việt muốn nhảy qua chương trình Pháp thì không thể nào theo được, có hiểu được tiếng đâu mà theo, ấy thế mà em lại không được cái gì bù lại: giỏi tiếng Việt chăng? Đó chỉ là một cái lợi tương đối mơ hồ, vì một học sinh chương trình Pháp nếu có khiếu cũng viết tiếng Việt hay như thường, đôi khi câu văn có thể không chuốt lọc bằng, nhưng nội dung hầu chắc là phong phú hơn nhờ sự tiếp xúc với một nền văn hóa mới. Lớp đàn anh ta thiếu gì người chỉ học chương trình Pháp mà vẫn viết được Việt văn. Không nên căn cứ vào một hai ông lớn không nói nổi tiếng Việt mà làm hại chương trình Việt bằng cách bắt học một việc thừa, đang lúc còn vô vàn cái khác phải học. Ngày nào chúng ta đưa sinh ngữ vào ngay từ tiểu học, mỗi tuần lối 8 giờ cũng như đưa thêm chữ Nho vào nữa, thì ngày ấy chương trình Việt sẽ thực có giá trị: một mặt nó trang bị học sinh khi lên hết đệ tứ thí dụ biết đủ một sinh ngữ để đọc sách của thế giới không kém chương trình Anh, Pháp bao nhiêu, mà lại còn hơn được chữ Nho có thể nghiên cứu ngược về nguồn, nghĩa là khi ra khỏi trường nếu em muốn nghiên cứu về kinh truyện của tiền nhân thì chỉ cần một tự vị chữ Nho nữa là em có thể tự mình đọc ra được các sách cổ. Thế la cổ cũng như kim. Thế là cổ cũng như kim em được trang bị đủ để có thể bắt đầu đi sâu nếu em thích; bằng không cũng đủ cho em tham dự vào đời sống văn hóa cả Đông lẫn Tây. Trong khi đó nếu có một em ở chương trình Phàp nhảy vô thí dụ ở năm đệ tứ thì ít chi cũng phải chậm lại một vài năm để học Nho.Như vậy là chương trình Việt hơn chương trình Pháp, hơn xa lắm ở chỗ em được tham dự vào một cơ sở tinh thần vì nắm được chìa khóa một kho tàng phong phú vào bậc nhất và thâm sâu hơn hết về giá trị nhân bản. Nếu ta chọn hai lớp trẻ tài cán y như nhau mỗi bên 100 em. 100 em cho học chương trình Pháp, 100 em cho học chương trình Việt có Nho và sinh ngữ như đề nghị trên đây, đến hết năm đệ tứ cả 200 em viết bài, nhất định số bài đặc sắc bên chương trình Việt sẽ nhiều hơn, là vì các em thêm được nguồn cảm hứng nữa nên tư tưởng sẽ phong phú và đổi mới nhiều hơn. Đó mới là nói đến Việt văn, phương chi nóiđến đức thì càng hơn ở chỗ có một cơ sở tinh thần để y cứ. Khỏi vật vờ phiêu bạt như bên chương trình Pháp và Việt hiện nay.
Muốn được như thế thì ngay từ lớp nămhay tư đã cho học chữ Nho lối 4 giờ mồi tuần, học liền vào kinh điển, thì đến khi lên đệ tứ sẽ đạt được sự mong muốn trên kia. 4 giờ đó sẽ lấy vào giờ dành cho tiếng Việt. Giáo sư dạy Việt văn sẽ đảm nhiệm việc dạy chữ Nho. Chỉ cần dạy cho các em biết viết và hiểu nghĩa đen là đủ. Mấy năm đầu sẽ có ít nhiều lộn xộn, vì giáo sư chưa biết Nho, nhưng chỉ vài năm có khi không tới, thì đã đâu ra đó, vì các sách Nho đều đã có phiên âm và dịch nghĩa, chỉ cần xem xét ít lâu để tránh viết trái cựa vậy là dạy được liền, ít năm giáo sư sẽ thành thạo, đủ sức để đi vào kho tàng man mác của cổ học Viễn Đông sẽ rất khác với người không đựơc học. Còn cứ phải dạy Việt văn như nay, dẫu có chuyên già đời cũng chẳng thêm được gì nhiều lắm vào chiều sâu; nhai mãi mấy câu Kiều thì hay đến đâu rồi cũng phải nhàm. Vì đó là sách cổ điển, không phải là kinh điển nên không khái quát nổi nguồn sinh lực tự thâm tâm.
VĂN CHƯƠNG VIỆT
Đây là điểm thứ hai cần bàn tới, bởi cũng là điểm bật rễ. Vì văn chương là gì nếu không phải là sự trình bày khéo léo một cái gì đó: nó ví như hộp đựng kẹo, bánh, thịt… Hộp cần đẹp nhưng nội dung vẫn quan trọng hơn, chỉ chú ý tới hộp mà không lưu tâm đến nội dung là mạt học. Vậy mà đó là chương trình của Tây Âu. Tại sao lại như thế? Thưa vì Tây Âu thiếu kinh điển, sự thiếu đó đã gây ra nhiều lộn xộn mà điểm quan trọng hơn cả là lẫn văn hóa hậu trường với giáo dục. Một nền giáo dục đầy đủ thì phải dạy kinh điển tứ là những sách khó họ, vì khó học nên để làm sách giáo khoa. Nhưng sự học của con dân không nên kết thúc khi thôi trường mà cần tiếp tục trong suốt đời sống và đó là việc của giáo dục hậu trường có thể gọi tắt là văn hóa! Văn hóa phải nối tiếp việc của giáo dục, nhưng phải làm khác với giáo dục. Vì đây là những người học đã xong, và đang phải vật lộn với đời, không còn nhiều thời giờ cũng như nhiều chú ý (đã đầu tư hết vào việc ăn làm). Vì thế văn hóa phải tìm ra một lối học không khắc khổ như chương trình giáo dục mà còn hấp dẫn lôi cuốn và đó là lý do xuất hiện của tiểu thuyết, tuồng và kịch v.v… Tất cả đều phải tìm cách giải rộng, đào sâu một điểm nào đó của cơ sở tinh thần dân tộc, có khi bằng đưa ra những khía cạnh chưa ai nhìn thấy và bằng những phương thức mới mẻ, luôn luôn biến dạng. Có thế mới giàu khả năng du hí và lôi cuốn, hai tính chất này phải là nét đặc trưng của văn hóa. Giáo dục đã có phương tiện ép buộc phải học, thí dụ thi cử, thăng tiến. Văn hóa không có những khả năng đó nên cần bù lại bằng khả năng lôi cuốn hấp dẫn, càng hấp dẫn càng được việc, nhiều khi chỉ cần hấp dẫn để mà hấp dẫn đó là nghệ thuật và nghệ thuật thì tuy đã mất khả năng “giáo dục” nhưng cũng còn giúp trong việc giải trí. Đó là đại khái sự khác biệt về phương pháp giữa giáo dục vì văn hóa. Nhưng vì Tây Âu không có kinh điển cho phần giáo dục nên đã đưa cổ điển vào thay, nhưng cổ điển chỉ là một thứ văn chương hay là sách của văn hóa, cho nên nó đã mở rộng cho tiểu thuyết, văn chương đủ loại ùa vào chương trình giáo dục làm tràn ngập hết chỗ lẽ ra phải dành cho kinh điển và triết lý. Và như thế là làm cho chương trình trở thành nặng nề và toàn bã rác, toàn là mạt học, chỉ chuyên có chương mà chương cái chi thì không ai biết đến nữa, và do đó càng bắt học nhiều văn chương là càng tập cho các em cái thói xấu là nói để mà nói, viết để mà viết mặc dầu chẳng có chi đáng giá để mà phải nói phải viết, và do đó giúp thêm vào việc lạm phát văn chương chủ nghĩa. Nói về việc đem tiểu thuyết vào chương trình giáo dục cũng nên chú ý đến điểm này là nhà làm chương trình phạm nhiều bất công với người nay cũng như người xưa: vớ người nay thì chọn người này bỏ người kia. Tại sao lại chọn có tiểu thuyết “Tự lực văn đoàn” mà không chọn tiểu thuyết các đời sau? Bó buộc phải bất công vì mỗi năm tiểu thuyết ra cả hàng chục cuốn có giá trị ít ra đối với tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Còn với người xưa là một sự phản bội rõ rệt. Người xưa lấy kinh điển làm nền, còn văn chương thi phú chỉ là sự bàn luận về đạo lý cho hợp cảm quan mỗi thời, đó là văn hóa, nên các ngài không đặt trọng tâm ở đấy. Nay chúng ta đem sản phẩm của các ngài (Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ) để làm thứ kinh điển tương đương với văn Âu Mỹ thì là bỏ gốc chọn ngọn đem văn hóa hậu trường thế cho nền giáo dục có kinh điển đàng hoàng. Âu Mỹ thiếu kinh điển nên họ dồn hết sinh lực vào văn chương (tiểu thuyết, tuồng kịch) còn Đông phương có kinh điển, thì chú ý và quan trọng phải dành trước hết cho kinh điển, thứ yếu mới đến văn chương. Truyện Kiều thí dụ chẳng một ai trong các cụ cho là kinh. Chính tác giả của nó cũng chỉ có ý làm văn hóa theo nghĩa “du hí” hâu trường: “lời quê góp nhặt dông dài; mua vui cũng được một vài trống canh”, vậy mà nay ta đưa vào chương trình “bắt học mửa mặt mất vài cái xuân” thì nếu Nguyễn Du có phục sinh cũng phải chau mày. Nói thế không phải là coi thường truyện Kiều mà bất cứ ai trong ta cũng hãnh diện vì văn chương nước ta đã sản xuất nổi một tác phẩm nghệ thuật cao siêu đến thế. Nhưng chỉ có ý xin đặt nó vào đúng chỗ của nó. Truyện Kiều chỉ là một tiểu thuyết hay là một cổ điển kiểu của Homère, Sophocle, không thể là kinh. Nền giáo dục nước ta có kinh điển, phải dành chỗ cho nó ¾ còn văn chương chỉ 1/3 cùng lắm là mỗi bên một nửa. Nghĩa là trong thực tế nên cho biết đại lược lịch sử văn học và một số nhỏ cổ điển (nhỏ hơn nay gấp 2, 3 lần). Còn tiểu thuyết thì chỉ nên cho dăm ba quyển thực giá trị, tức những quyển đã tỏ ra sống lâu đời để các em biết qua lối bố cục, mục đích. Đưa nhiều tiểu thuyết vào chương trình là lẫn giáo dục với văn hóa hậu trường và làm cho nền giáo dục nước nhà lây những cái dở của người là du hí, rậm lời, rơm rác. Hiện nay bên Âu Mỹ đang có khuynh hướng thoát tình trạng ấu trĩ bằng bớt chú trọng đến tiểu thuyết để chú tâm nhiều đến các loại khảo luận, triết học, tâm lý. Ai theo dõi văn học Tây Âu cũng thấy được (đọc chẳng hạn Les nouvelles littéraires, 7/1/1965). Hi vọng rồi họ sẽ nhận ra sự phân biệt quan trọng giữa giáo dục và văn hóa cũng như tiểu thuyết thuộc văn hóa hậu trường viết ra để đọc chứ không phải để học. Viết càng hay người ta càng đọc nhiều thì càng khỏi học. Để thì giờ quý hóa ở trường học những truyện ơn ích hơn chứ không phải là lèn vào óc trẻ con đầy nhân vật tiểu thuyết, cái đó rất dễ, sau này học xong muốn đọc dăm chục bộ tiểu thuyết hay cũng chỉ mất một năm, nhưng nếu muốn học chữ Nho thì dăm mười năm vị tất đã đọc xuôi. Tóm lại nếu không đưa sinh ngữ và chữ Nho vào chương trình Việt, thì nên theo hẳn chương trình Pháp hay Anh vì nó trang bị cho các em được một sinh ngữ và đó là lý do tại sao trường Tây vẫn đông. Nếu không sửa chương trình Việt lại thì cho con đi học trường Tây là rất thực tế.
|