|
Mục Lục | Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14
XI. NGUYÊN TẮC HƯỚNG DẪN VIỆC PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH
Nguyên tắc đó khởi đầu nặng về thành nhân rồi dần dần thiên sang thành công. Ta có thể minh họa bằng biểu đồ sau.
Hình chữ nhật chỉ thời gian đi học, nét dọc chỉ những môn về thành nhân như học kinh điển, triết, văn chương, sử, công dân… Nét ngang chỉ thành công như các môn thường thức về toán, lý, hóa và nhất là các ngành chuyên môn. Bảng trên muốn nói lên rằng ban đầu chú trọng thành nhơn rồi trẻ càng lớn lên thì giáo dục càng phải chú trọng nhiều đến thành công theo đà. Nhưng không lúc nào thành nhân và thành công li cách (như tai họa chương trình hiên nay). Tại sao lại đặt thành nhân trước thành công? Thưa có hai lý do: trước hết là vì thành nhân là của hết mọi người, dù sau này ở thành công mỗi người chuyên mỗi ngành khác nhau: thương mại, binh bị, khoa học, luật sư, nhà văn, nhà giáo v.v… Nhưng tất cả đều phải làm người, tất cả mọi người đều phải tránh vong thân bằng cách tu thân là học đạo làm người. Và do lẽ đó cũng lấy ngay đạo làm người làm cơ sở dân tộc để đoàn kết mọi người trong nước, nên bất kỳ ở cương vị nào cũng phải biết đạo lý của dân tộc vì đó cũng là đạo lý của nhân tộc. Hết mọi người đều phải học đạo làm người cũng là đạo làm dân, nên phải để lên đầu.
Thứ đến là tuổi nhỏ chưa thể học được thành công, chỉ có thể học nghề nghiệp khi đã hết tiểu học. Còn thành nhân không phải là hiểu được nhưng vì những nguyên lý cũng như các tiêu biểu của đạo làm người cần in vào sớm để sau này lớn lên sẽ suy diễn ra dần dần. Tuổi nhỏ chỉ có thể học thuộc lòng, thì ta nên cho các em học cái gì quý nhất, cao cả nhất của dân tộc di truyền từ đời này sang đời kia. Cái đó chỉ có thể thuộc thành nhơn tức là kinh điển và văn chương, nghĩa là những sách dạy đạo làm người.
Do đó chương trình tiểu học đặt nặng trên việc ký tụng kinh điển, chưa cần suy, “sáng tác” chi cả. “Có bột mới gột nên hồ”. Đây là tuổi đang thâu lượm bột. Còn gột nên hồ là suy luận và hiểu sâu xa là việc sau thuộc các cấp trung học, đại học và cả đời, nhất là từ lúc đứng tuổi về sau. Ngoài kinh điển ra thì việc đáng chú trọng nữa là sinh ngữ, vì đây là tuổi mọi cơ năng còn mềm dẻo dễ uốn nắn, thì chính là lúc cho em học sinh ngữ, học thật nhiều bởi vì đời nay thiếu sinh ngữ là thiếu mối giao thông với quốc tế. Vậy cần phải học, mà đã học thì phải học rất sớm khi miệng lưỡi còn dễ uốn nắn, có học sớm mới nói được, tuổi tốt nhất để học sinh ngữ là tiểu học. Từ 18 tuổi trở đi có học cũng là gượng. Vậy nên chương trình tiểu học phải đặt rất nặng trên sinh ngữ cũng như linh ngữ. Đại để gốm mấy khoản sau:
Biết đọc biết viết chuyển tự (quen gọi là quốc ngữ).
Thuộc lòng một số kinh điển và một số bài hát múa, văn chương.
Biết nói, biết đọc tàm tạm một sinh ngữ.
Một số tri thức cụ thể về:
Phép xã giao
Về luật đi đường và những luật công dân cần thiết và các thường thức khác
Một số thường thức về địa lý.
Về toán chỉ cần bốn phép gốc và một số bài toán thực dụng trong đời sống của mọi người. Vì thế nên hoãn dạy toán đến lớp ba, lớp nhì chi đó. Còn nhỏ quá đã bắt học Toán rất không hay cho sự mở mang tâm hồn. Cho học toán sớm học sinh ngữ muốn là đi ngược chiều sự phát triển. Toán thuộc lý trí suy luận, càng lớn học càng dễ, còn tiếng cần trí nhớ và sự thích nghi cơ thể (miệng lưỡi) càng học sớm càng hay. Về sinh ngữ xin chú trọng đến việc học thuộc lòng, học đến lúc đọc được rất trơn tru bài mấu (trong English for today) trong mỗi tuần, trước cho học sinh một phần bài, càng về sau càng thêm nếu mỗi năm thuộc lòng vài chục bài thì lên lớp nhất hầu hết các em đã nói được. Không phải đâu cũng có phương pháp mới về thính, thị, không phải em nào cũng gặp được thầy giỏi hay có dịp tiếp xúc với người Mỹ, nhưng nếu bắt em học thuộc lòng, đọc rất trơn tru thì em sẽ được bù cách hiệu nghiệm nhất. Nếu theo lối đó thì từ lớp nhì trở lên giờ tiếng Anh giáo sư nói toàn tiếng Anh được rồi. Chúng tôi xin nhắc lại vì óc duy lý nhiều người coi khinh việc học thuộc lòng cho là học tủ, nhưng nếu người sành tâm lý và biết quan sát thì nhận ra rằng học tủ mới chính là phương pháp hay nhất cần áp dụng cho các lớp tiểu học, miển là học hết mọi tủ, tức là học thuộc lòng hết mọi bài kinh điển, mọi bài mẫu của sinh ngữ. Được như vậy là xong nhiệm vụ của tiểu học. Muốn dạy “sáng tác” cho các em là dạy các em làm người lớn trước tuổi.
Nhận định như thế rồi ta sẽ thiết lập chương trình đại khái như sau. Trước hết ở lớp mẫu giáo khởi dạy cho biết đọc biết viết, lên lớp năm, tư nếu các em có viết sai đôi ba chữ hoặc viết câu văn luộm thuộm thì không nên coi là quan trọng vì cái đó cùng với tuổi dần dần sửa đổi, không có chi mà phải la hốt hoảng. Từ lớp năm mỗi tuần dạy chừng:
6 tới 8 giờ sinh ngữ
4 giờ kinh điển
2 giờ tiếng Việt (Việt văn). Giờ còn lại để vào thường thức.
Các năm sau cũng xuýt soát để cho sự tiến bộ trong ngoại ngữ được đều đặn. Ngoài ra học thuộc lòng một số bài ca vũ. Đây cũng là một điều cần cải tổ là thêm nhiều giờ học nhạc, học ca vũ cho các em. Vừa đúng với đường lối tiên tổ rất ưa ca vũ, vừa hợp với tâm lý hiện đại. Decroly cho ca vũ là những nhu yếu căn bản đối với trẻ con. Cần đưa vào những lớp nhỏ nhiều ca vũ kiểu sói con. Nếu phổ nhạc vào những bài kinh Thi, những truyện huyền sử để cho các em vừa học vừa múa thì là lý tưởng.
Ở tiểu học cần rút vắn khóa học, hoặc cho học ba khóa hoặc nếu muốn giữ bốn khóa như nay thì mỗi khóa chỉ nên kéo dài chừng 30 phút, ít ra cho tới hết lớp ba. Bắt các em học nhiều là làm hại chúng cũng như xét về lau dài là làm hại nước.
Một điểm tối quan trọng giúp cho sự phát triển óc tưởng tượng là trò chơi thi chương trình nay bỏ bẵng. Đó là lầm lỗi lớn của óc sùng phụng chữ nghĩa ngôn từ mà không nhìn nhận ra giá trị khác, như chơi, ca và vũ nhất là vũ (có thể xem bài “Le jeu favorise la fantaisie créatrice cũng Jung trong quyển Les types psychologiques tr.64).
Về sử, tưởng nên cho học “Việt sử diễn ca”. Có thể coi đây là một cái nhân cho toàn dân, vì ai cũng biết một số điểm như vậy là đủ. Bàn rộng sẽ là sự học dành cho những người chuyên môn, không nên lấy cớ yêu nước mà chồng chất cho trẻ con quá nhiều những niên kỷ, những sự kiện vụn vặt của hết mọi vương triều toàn bị. Ngoài nhà chuyên môn viết sử mà cho tất cả vào sử giáo khoa kiểu đó là tồi tệ. Về Việt văn chỉ cần viết được một bài tả cảnh và một bức thư tàm tạm là đủ, cùng với sự học, nhất là sinh ngữ và tuổi khôn lớn lên chúng sẽ biết thêm ra. Chớ bao giờ đưa vào chương trình môn pháp ngữ Việt (grammaire) kiểu Tây, đó là làm khổ các em một cách vô lý, vô ích, vô tích. Giả sử điều đó có cần thì các em sẽ học cùng với sinh ngữ đủ rồi.
Hết lớp nhất thì phần lớn các em bỏ trường đi vào học nghề nghiệp làm thợ chuyên môn, cũng như hết đệ tứ phần lớn các em đi vào học kỹ sư. Trong quãng trung học (nếu tận cùng ở đệ tứ là 4 năm) thì cũng có thể giữ mội tuần 6 giờ sinh ngữ. Về kinh điển cũng nên giữ 4 giờ để học thuộc lòng thêm một số sách và bắt đầu giải nghĩa rộng theo văn học trong hai năm thất và lục. Hai năm sau đệ ngũ tứ sẽ chuyển sang triết lý. Về chữ Nho có thể cho học thêm bạch thoại để có thể đọc sách báo của Trung Hoa hiện đại. Văn ngôn và linh tự linh ngữ của ta nên hết mọi người phải học, còn bạch thoại là chữ Hán hay tiếng của người Tàu đáng lý ta không cần lưu tâm. Tuy nhiên khi đã biết văn ngôn (tôi gọi là linh tự linh ngữ) có học thêm bạch thoại là điều dễ, mà lại có thể thông giao với văn hóa Tàu hiện đại, thì tưởng cũng rất nên làm, vì biết bạch thoại có thể truyền thông tư tưởng với một khối người đông nhất trong nhân loại hiện nay.
Về Việt văn đi vào một số tác giả được chọn ít hơn là nhiều, vừa đủ để dạy cho các em biết đi vào văn hóa hậu trường như sao.
Về thành công chung như toán, lý, hóa, vạn vật… thì ở trung học bắt đầu chiếm phần quan trọng ngang hay là bắt đầu vượt số giờ dành cho thành nhân rồi, cũng như sau này một khi bước vào chuyên môn thì số giờ dành cho thành nhân chỉ còn chiếm ít có lẽ lối 10-20 phần trăm. Tôi nói đến thành công chung là hiểu đến thường thức thuộc thành công. Còn vấn đề thành công chuyên nghiệp thì thiết nghĩ phải có chương trình riêng mới nên việc được. Bắt các trường dạy chữ dạy thêm cả chuyên nghiệp khó lòng thành đạt. Vì thế nếu là “thợ chuyên nghiệp” thì đặt sau bậc tiểu học, còn kỹ sư thì đặt sau trung học (sau đệ tứ). Thợ chuyên môn sẽ tuỳ ngành mà thời gian lâu mau 6 tháng, 1 năm, 2 năm. Nuôi gà, làm vườn, cấy lúa v.v. có thể 6 tháng thì học đủ được những căn bản để giúp cho có thể theo dõi các báo chuyên bàn về ngành đó. Đây là vấn đề chuyên môn dành lại quyền bàn định cho các nhà chuyên môn.
Điều chúng tôi thấy cần bàn tới là nên phân phối chương trình cách nào cho khi học sinh học xong đệ tứ được trang bị đủ về sinh ngữ để có thể tự mình khảo cứu thêm cả về cổ học hay tân học, mà không phải vất vả lắm, nghĩa là đọc tiếng Anh thạo, chữ Nho cũng khá thông (chỉ phải dùng tự điển qua loa). Nếu số người đọc được chừng 50% khi xuất trung học và 10% hay 20% khi bỏ tiểu học thì kể là nền giáo dục thành đạt. Nói khác nếu dạy thêm sinh ngữ và linh ngữ thì sau này bất kỳ người dân nào cũng có thể đi theo chương trình văn hóa hậu trường. Và đấy là lúc mỗi người sẽ tuỳ sở hữu khá năng mà bù đắp thêm những điều chưa học ở trường. Vì trường chỉ nhằm dạy cho những điều căn bản mà trên hết là một đạo sống rồi sau đến một ngoại ngữ và một linh tự với một số thường thức căn bản.
Chương trình ở tiểu học càng giữ y nguyên lâu càng hay. Thiết tưởng chỉ có phần công dân và lịch sự xã giao là lâu lâu phải sửa lại chút ít cho hợp thời, còn phần chình cốt phải để y nguyên suốt thế hệ nọ sang thế hệ kia. Nếu ở đại học bao giờ cũng giữ y nguyên là dở thì ở tiểu học lại cố đổi thay cũng là dở. |