Ở đây xin lưu ý nọc và nòng chỉ là hình tượng trừu tượng. Tổ tiên ta lấy hình tượng thực tế để quy ước cho hình tượng trừu tượng. Chớ hoàn toàn không phải hai con nòng và nọc làm nên toàn vũ trụ.
Như phần hai đã viết, khi đưa Cóc lên làm linh vật và cho chúng là anh em với mẹ vũ trụ, bởi vậy, con của Cóc là nòng và nọc phải là phiên bản của hai cái gì đó trừu tượng đối nghịch nhau nhưng không đối kháng, ngược lại là hai thành phần không tách rời để tạo ra Thái Cực-mẹ vũ trụ và vạn vật. Như vậy đây cũng là suy luận logic và trên cơ sở quan sát chớ hoàn toàn không có một màn huyền bí nào cả. Người xưa đã đặt luôn hai cực mâu thuẫn nhau này là nọc và nòng (chúng tôi xin tránh hai từ Âm Dương).
Sách Cương mục Tiền biêncủa Kim Lý Tường chép rằng: Năm Mậu Thân thứ năm đời Đường Nghiêu, Việt Thường thị sang chầu, dâng con rùa thần. Theo Thông chícủa Trịnh Tiều, về đời Đào Đường, phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước , trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy lịch (lịch Rùa). Sách Giao Châu ngoại vực ký cho rằng, các Lạc Tướng thời Hùng Vương đã có ấn tua xanh. Có nghĩa là chắc chắn có chữ trên ấn đồng. Trong quyển“Nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam”, nhà nghiên cứu hưa có văn tự. Nhưng đã có ấn đồng tua xanh thí ắt phải có văn tự.” [25]. Tuy nhiên, ông Trần Tu Hòa cũng quên lý luận thêm: chính lối thắt nút là ngữ văn của người Việt xưa. Chữ thắt nút chính là chữ nòng nọc kết hợp với những chiêm nghiệm các chùm sao quan trọng, sau đấy, theo tôi có hai quá trình ngược nhau: đó là quá trình tách từ cụm sao ra các cụm riêng lẻ và biểu thị cho những chữ tiếp theo, quá trình ngược lại là tổ hợp các cụm sao sẽ được biểu diễn cho tính chất trung dung (hay tính chất tổng) của các thành tố lập nên tổ hợp. Trên mình ông Khiết có 7 u nhô lên (sao Bắc Đẩu) và chữ đó theo tôi đưTrung Quốc Trần Tu Hòa có viết: “Chính sự thời Lạc Vương còn theo lối thắt nút (khoa đẩu, hay nòng nọc), như vậy vẫn còn cợc ký hiệu cho Càn hay là Trời. Vậy khoa đẩu văn chính là tổ hợp các cụm chẵn lẻ của các nút và đặc biệt hai ký tự đầu tiên nhất là nọc và nòng.
Chúng ta có thể tìm thấy vô vàn những chứng cứ nòng và nọc được thể hiện trong các di vật cổ:
Bồ nông cái và bồ nông đực:
Chim Trĩ hay Phượng Hoàng(có thể là Diệc) trong trống Ngọc Lũ:
Người thể nọc và thể nòng trong trống Miếu Môn:
Qua phần 1 và phần 2, ta thấy logic hình thành nên hai bản thể của vũ trụ hoàn toàn không mang bức màn huyền bí: Quan sát thấy cóc nghiến răng kèn kẹt là Trời đổ mưa, nên cóc là đại diện của Mẹ vũ trụ (Thái Cực) dưới trái đất và con của Cóc-nòng và nọc là hai bản thể mâu thuẫn nhưng không đối kháng, có thể nói hai bản thể ngược chiều nhau nhưng cùng tạo nên Thái Cực.
Lẻ là nọc và chẵn là nòng. Và số Không.
Thật ra cũng không có gì khó hiểu cả. Người xưa đã cho rằng bản thể của những gì tồn tại trên Trái Đất này phải có tính hoặc nọc hay nòng. Những con số cũng không ngoại lệ. Có logic nào phân các số ra thành nọc và nòng không. Logic rất đơn giản: cắt chúng ra thành các phần nhỏ theo từng hai vòng tròn một (nòng), đến lúc không thể chia được nữa thì hình cuối cùng nhận được sẽ là bản thể của số. Nếu nhận được một vòng tròn thì số đó thuộc nọc. Nếu hai số đó thuộc nòng. Đây chính là phương pháp đơn giản nhất hay nói đúng hơn đó là phương pháp tiếp cận bậc 1 chưa qua bắc cầu nào. Còn trong truyền thuyết long mã thì sao? Tại sao từ các vòng tròn mà ra thành vạch rời vạch đứt? Muốn đạt được suy luận đến đây thì phải qua tiếp cận bậc hai: có nghĩa biến vòng tròn thành đọan thẳng và biến cụm hai vòng tròn bằng hai đoạn thẳng còn vạch nối ở giữa bỏ đi. Vậy tiếp cận nào gần Hà đồ hơn?
Số trong di vật cổ chúng ta cũng rất nhiều:
5 và 7:
4, 6, 7, 8:
8, 9 trong trống đồng Làng Vạc:
15, 18 trong trống đồng Hữu Chung 3:
Nói chung tất cả các con số đều được rải rác biểu thị trên mặt trống đồng. Chúng tôi không có điều kiện nghiên cứu từng ý nghĩa của các con số nên xin không đề cập. Mặc dù biết rằng tất cả các hình vẽ đó có những ý nghĩa nhất định, nhưng nếu không biết vị trí phân bố của chúng như thế nào thì không thể biết người ta vẽ nên chúng để diễn tả cái gì.
Có thể nói, trên trống đồng đã khắc họa số không. Nhận biết số không cũng rất đơn giản; tức là ngay tại một vùng nào đó cũng cùng hình tượng như thế mà lúc nó được vẽ hai, ba hoặc một vòng tròn, có lúc không vẽ gì cả. Vậy, ít ra ta suy luận vùng đó có thể biểu tượng một thành phần nào đó của Dịch và không vẽ nhưng nó cũng có tính nòng nọc. Vậy không là nòng hay nọc?. Là nòng! Vì sao? Vì rằng bằng logic chia như vậy, ta sẽ thấy khi chẵn thì phần cuối cùng là con nòng nhưng lại gạt tiếp con nòng đó qua một bên, ta lại tiếp tục nhận Không (Không còn gì để chia 2 vòng tròn một). Như vậy, thể không thuộc chẵn hay thuộc nòng. Có thể nói, cha ông ta đã phát minh ra số không qua việc nghiên cứu Kinh Dịch(hay Diệc). Chứng tích của không rất nhiều:
Trong hình Miếu Môn trên ta thấy trong mỗi cụm người có ba thành phần chứa số rõ ràng: Phần 1 ở trên là phần chim. Phần hai là phần người cộng hoa văn, phần ba là phần vũ khí. Ta thấy, có một sự phân bố khác biệt rõ ràng giữa các cụm người. Như vậy, cụm người không có chim cũng phải diễn tả một thể nào đó để toát lên tính cân bằng ba phần trong một cụm. Cụm người cũng vậy. Chứng tỏ, ở những chỗ đó người xưa ký hiệu số không thuộc nòng.
Hoặc như những hình vẽ người dưới đây trên Trống Ngọc Lũ:
Hình vẽ trên trống đồng Ngọc Lũ phần tang trống cũng chỉ cho ta thấy số Không:
Hoặc như hai hình dưới đây được khắc trong trống Hoàng Hạ:
Như vậy, ta có thể thấy các số xuất hiện trong các trống đồng một cách thường xuyên và lại luôn luôn có sự hiện diện của nòng và nọc trong đó. Điều này, ít ra cũng chứng minh một điều tất cả các con số phải có dính dáng đến nòng với nọc. Khi rút ra được điều đó việc chúng ta phải giải mã chẵn thuộc gì, lẻ thuộc gì? Theo logic chia số ra từng cặp một, để phân biệt nòng nọc ta có thể giải mã chẵn thuộc nòng và lẻ thuộc nọc.