|
( Một giải đáp cho khủng hoảng thời đại )
A.- Vào đề
Thiển nghĩ những khuynh hướng đảo điên về con Người và Xã hội gây ra khủng hoảng trầm trọng trên thế giới hiện nay là do nếp sống của mọi người trái với Thiên lý, Thiên lý lại được tìm thấy trong Văn hóa Việt, cho nên vấn nạn con người và xã hội chúng ta là thuộc vấn đề Văn hóa. Vì thế mà có lời cổ nhân cảnh cáo : “ Làm văn hoá sai thì có hại cho nhiều thế hệ !“. Chúng tôi mạo muội nêu lên ít nét về Văn hoá Tổ tiên được xem như là nhiệm vụ và phần đóng góp nhỏ mọn của một công dân Việt.
Thường người ta làm văn hoá chỉ chú trọng đến văn học nghệ thuật, tức là phần ngọn, mà không quan tâm nhiều đến phần gốc của văn hoá là triết lý nhân sinh. Mục đích của văn hoá là dùng lời Văn vẻ để giúp Cảm hoá nhau mà cùng giúp nhau Vi Nhân.
Nói đến triết thì phải triệt: cả triệt Thượng lẫn triệt Hạ.
Triệt Thượng hay “ Đầu đội Trời: Cao minh phối Thiên “ là phải đi cho đến tận nguồn gốc Đạo, tức là thế giới Tâm linh – nguồn Sống và nguồn Sáng-
Còn triệt Hạ hay “ chân đạp Đất: Bác hậu phối Địa “ là phải tìm cho ra cái Thiên tính trong con Người Nơi Đây và Bây Giờ hầu tìm cách thoả mãn những nhu yếu thâm sâu của con người, giúp con người phát triển toàn diện, mà “ Ở Đời “ cho sung mãn theo “ Nghịch số chi lý : Chân lý ngược chiều của Dịch “, để thuận Thiên lý hầu đạt tới cuộc sống thái hòa, nhờ đó mà cuộc sống được Phong Lưu.
Thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu đã ví von:
Đội Trời đạp Đất Ở Đời
Sa cơ thất thế con Người Chiếc Thân
( Cảm thu tiễn thu )
Đội Trời là triệt Thương, đạp Đất là triệt Hạ, Sa cơ thất thế là sống trái nhịp với Thiên lý, giống như Thiên thần gãy cánh, nên quê Người Chiếc Thân, con người mất mối liên hệ tham thông cùng Thiên, Địa, Nhân, nên bơ vơ lạc lỏng.
Dịch lý hay Thiên lý là nền tảng của Nho. Nho là Nhân đạo, là sự giao hòa của Thiên Địa đạo, là đại Đạo “Âm ( Địa ) Dương ( Thiên ) hòa “.
Trên thế giới chỉ có Việt Nam là có hai Vật biểu: “ Tiên Rồng” được Nho công thức hóa thành Âm Dương, Tiên Rồng là nền tảng của đạo “ Thuận Vợ thuận Chồng, tát bể Đông cũng cạn “, tức là đạo Thái hòa.
Trong nền Văn hóa Việt, ta tìm thấy có 5 điển chương, mà nét Lưỡng hợp Tiên Rồng ( Âu Cơ và Lạc Long gặp nhau trên cánh đồng Tương hay Tình Lý tương tham ) này là sợi chỉ hồng xuyên suốt, nên Nho này được T.G. Kim Định gọi là Việt Nho: Nho có nguồn gốc từ đại chủng Việt.( 5 điển chương Việt: Huyền thoại, Làng xã, Trống Đồng, Dịch Việt và Trung Dung bao hàm cơ cấu và nội dung của Việt Nho và triết lý An vi ) đã được bàn trong cuốn “ Văn Hiến Việt Nam” của tác giả, sắp xuất bản ).
B.- Tòa nhà Văn hóa Thái hòa Việt Nho
Toà nhà Văn hoá Việt gồm ba phần:
1.-Tòa nhà ba móng: Thực, Sắc, Diện
2.-Tòa Nhà ba gian : Thái hòa, Nhân Chủ &Tâm linh
3.-Tòa nhà hai mái: Cuộc sống Phong Lưu như Gió thoang thoảng trên không, như Nước lững lờ trôi dưới suối.
I.- Tìm về gốc Đạo
Đạo đây là Nhân đạo, là tổng hợp của Thiên, Địa Đạo. ( Tam Tài giả: Thiên Địa Nhân ) Thiên là những gì Phi thường, Địa là Thường thường, con Người là tổng hợp tinh hoa của cả Trời lẫn Đất, nên con Người có sẵn trong mình cả Phi thường ( Thời gian ) lẫn Thường thường ( Không gian ), nên có khả năng tìm cái Phi thường trong những cái Thường thường trong cuộc sống hàng ngày. Nhờ cung cách biết tìm cái Phi thường trong cái Thưòng thường,( trong Âm có Dương ) do đó mà cái Thưòng thường là Đời, cái Phi thường là Đạo được liên kết chặt chẽ với nhau ” nhờ đó mà “ Đạo bất viễn nhân: Đạo không xa con người “, nghĩa là Đạo có thể giúp con người sống sung mãn trong những việc nhỏ nhặt hàng ngày, mà cũng vươn tới những giá trị cao cả được. Đạo mà xa con người thì Đạo không thể ảnh hưởng tới con người, nên không thể là Đạo thật.
Thái cực viên đồ diễn tả Đạo lẫn Đời làm Một.

Phần Đen ( - ) là Đạo, u linh man mác, ( tức Nguồn Tình ) , trong đen có nốt trắng ( + ), để chỉ trong Âm có Dương, Phần trắng là Dương ( + ) , cái gì cũng rõ ràng khúc chiết ( Thuộc Lý ), trong phần trắng lại có nốt Đen ( - ), để chỉ trong Dương có Âm (Âm trung hữu Dương căn và ngược lại ). Phần Đen tượng trưng cho Vô, cho Đạo,( ion +: Thể Âm, Diện Dương ) phần trắng tượng trưng cho hữu , cho Đời, ( ion - : Thể Dương Diện Âm ) nhờ sức hút Âm Dương, Đạo với Đời được kết làm Một, nên Đạo Đời luôn luôn khăng khít với nhau. ( 1 )
Nho còn bảo:” Nhân nhân vật vật giai hữu Thái cực: ngườì nào vật nào cũng mang Thái cực trong mình, Thái cực cũng là “ Đại đạo Âm ( ion + ) Dương ( ion - ) ( 2 ) hoà “ tức là Lý Thái cực. Thái cực là chân lý Mẹ, Lý của “ Nhất lý thông vạn lý minh”. Nhất lý là nguồn gốc của mọi lý, tức là Thiên lý, Lý của thái hoà: nguồn gốc của tiến bộ và trường tồn. Khi vươn lên khỏi cặp tương đối Âm Dương thì Thái cực trở thành Vô cực, ( Thái cực nhi Vô cực ) tức là Thượng Đế. Mặt khác Đạo Vợ chồng” Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ “ cũng là Đạo Âm Dương hòa. Do đó mà Đạo rất xa mà cũng thật gần.
Ngoài ra chúng ta cũng nhận biết “ vạn vật đồng nhất thể và vạn vật tương liên: mọi vật trên đời đều có cùng bản thể như nhau ( đều được cấu tạo bởi Vật chất và năng lượng, đều có mang theo những thái cực cả ) và có mối liên hệ cơ thể với nhau, nhờ giao liên với nhau bằng tần số, do đó mà tất cả đem lòng “ Yêu thương, Kính trọng và Tương dung “. Cũng nhờ tinh thần này mà mọi mối liên hệ trong ba cõi: Trời, Người, Đất được tham thông hay “ tam gia tương kiến:
Đạo cũng nằm ngay trong Tâm mình ( điểm linh quang con người được nối kết với vũ trụ ), trong của ăn vật uống, trong đạo vợ chồng, trong các mối giao liên xử thế.Tổ tiên chúng ta tìm Đạo từ trong cái Thường thường, từ gần ra xa, từ nhỏ tới to, từ thấp lên cao, tìm cái vĩ đại trong cái tinh vi, đó là cuộc sống siêu việt ( ẩn chứa trong tên Việt ) của nòi giống Việt.
II- Toà Nhà ba móng
Tiên Nho đã bảo: Thực, Sắc, Diện: Thiên tính dã: Cái ăn, Dục Tính và Thể diện là Bản Tính con Người được bẩm thụ từ Trời Đất. Ngôi nhà văn hoá Việt có ba móng Thiên tính này. Ai biết cách ăn ở trong ngôi nhà này ( thất ) thì có thể nhập Thái Thất ( tức là đạt Đạo ).
1.- Thực
Sự Thực gắn chặt với con Người nhất là cái Ăn.
“ Có thực mới vực được Đạo “. Không Ăn là chết, không ai khước từ được cái ăn, trời đã buộc con người vào cái ăn, nên ăn là một Thiên tính, không ai từ chối nổi, vì thế cho nên phải hết sức giữ lấy, bối đắp nó, không để cho ai cướp mất. Cái ăn không chỉ để nuôi vật chất mà còn để nâng cao tinh thần. Cái ăn gồm cặp đối cực Ngon / Lành, hai yếu tố này không thể tách rời và thay đổi liều lượng
theo từng người và tuổi tác. Khi nhỏ thì yếu tố Ngon trội hơn, đến tuổi già khi cơ thể đã suy nhược, thì yếu tố Lành phải trội hơn.
Cái ăn là Chân lý đầu tiên đươc Trời gắn chặt vào con Người.
Cái ăn không chỉ để nuôi Vật chất mà còn để nâng cao Tinh thần và Tâm linh, nên các món ăn phải được chọn từ các vật liệu chọn lọc, phải được gia vị, pha chế thật tinh vi để cho món nào cũng được khi khẩu, các bà nội trợ Việt đã chế biến ra vô vàn món ăn ngon và lành. Các bà không dừng lại đó, mà còn phải làm sao cho mọi thứ trên mâm cỗ phải được bày biện một cách hết sức đẹp mắt, hết sức mỹ thuật, và thật hấp dẫn. Sự hấp dẫn kích thích dịch vị tiết ra nhiều hơn, nên đồ ăn được tiêu hóa tốt hơn.
Đây là phương cách thực tiễn Mỹ hóa suốt đời Người.
Cha ông chúng ta cũng không vụ quá thực tiễn, mỗi người một đĩa thực phẩm ăn liền để khỏi mất thì giờ mà tăng gia sản xuất. Mọi người trong gia đình lúc nào cũng dùng bữa ăn chung, chia sẻ những thực phẩm với nhau trong những các địa thức ăn chung. Trong bữa ăn người trẻ và người già được ưu đãi hơn ( do thói quen kính già yêu trẻ ) , về chỗ ngồi, về các thức ăn, về cung cách ăn, người lớn hướng dẫn cho trẻ em biết cách thi lễ, biết tự chế trong những cái nhỏ nhặt nhất, như việc tự gắp lấy thức ăn cho mình ( ăn xem nồi ngồi xem hướng là ví dụ ) một cách thích hợp, không dành hết những thực phẩm mình thích mà bỏ lại những thứ không ưa, nhất là những gia đình nghèo khó phải nhường nhịn cho nhau, đây là dịp huấn luyện con cáí “ tập dữ tính thành “ về cách chia cơm sẻ áo để vi nhân từ lúc còn bé trong những việc bé nhỏ hàng ngày. Khinh thường điều bé nhỏ này, cho là câu thúc trẻ em vào những cái bần tiện không đâu, chính là bỏ quên điều quan trọng tế vi về “ Vi nhân” cực kỳ khó khăn. Cái quan trọng nhất không phải là chuyên lớn mà là những việc tế vi nhỏ nhặt “ làm người “ bằng cách “ có biết Thực đúng cách mới vực được Đạo”. Khinh thường cái Thực là khinh khi Đạo ( làm người ), lạm dụng cái thực là làm hoen ố Đạo.
Đây là phương thế thữc tiễn Thiện hoá suốt đời con Người.
Câu nói: “ Có thực mới vực được Đạo “, giúp mọi người nâng mình từ vật chất lên tinh thần, để đạt những giá trị ” Chân,Thiện, Mỹ “. Mọi người phải vươn lên, siêu hóa cuộc sống như loài Chim ( Hồng ) bay bổng trên không, ( Cao minh phối Thiên),bằng cách giảm lượng đạt chất, và ngược lại như loài Rồng ( Lạc ) lặn sâu đáy biển ( Bác hậu phối Địa ) để tăng thêm số lượng, siêu việt làm sao cho Chất, Lượng hài hòa. Khi thể hiện được cả Chân, Thiện, Mỹ trong cái ăn, thì thức ăn trở nên Quốc hồn quốc tuý.
2.- Sắc
Sắc là sắc dục, tính dục là chuyện của Vợ Chồng. Không Tính dục thì không còn là Vợ chồng, không Vợ chồng thì đâu còn nhân loại mà luận bàn những chuyện cao cả khác.
Sự Thực gần thứ hai là cặp đối cực Vợ / Chồng. Luật Thiên nhiên buộc chặt đối cực Trai Gái thành Vợ chồng nên Một.
Vợ chồng được kết hợp làm Một khi con Người đã trưởng thành. Không có Vợ / Chồng, Cái / Đực. Mái / Trống. Nhị cái/ Nhị Đực là nguồn sinh sinh hoá hóa của vũ trụ, thì quả đất của chúng ta biến thành bãi sa mạc mênh mông.
Có Sắc giúp cặp đối cực Trai Gái nối kết làm Một trong lãnh vực Tiểu ngã, còn trên bình diện hoàn vũ thì các tiểu Ngã cũng phải Kết hợp làm Một với Đại Ngã, Trang Tử gọi là Huyền Đồng với vụ trụ để thành Tiên. Khi kết hợp với nhau cả Thể chất lẫn Tâm hồn để sáng tạo ra những ” Tạo hóa con “ nối dòng, hầu con người tiếp tục khám phá ra những tinh vi và vĩ đại của Tạo hóa, thì mới nhận ra bất cứ cái gì ở đâu đâu cũng là những vũ trụ huyền vi.
Khi kết hợp với nhau, con người được khoái cảm tột độ, một thứ quà sinh thú để đền bù cho công khó nhọc mà Vợ chồng phải sinh nở và nuôi dạy con cái cho đến lúc trưởng thành, đây cũng là dấu chỉ dẫn đường cho con người nhận biết cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu khi hợp nhất được với Đại ngã.
Vợ chồng là Chân lý thứ hai về công thể đầu tiên của loài Người.Công thể này gọi là Gia đinh. Gia đình là nền tảng vững chắc của xã hội, nhờ nó thuận thiên.
Kết hợp thể xác với tinh thần làm một để hưởng khoái cảm trong thời gian ngắn thì dễ, nhưng để sống hòa hợp với nhau hàng ngày để làm ăn và nuôi dạy con cái nên Người thì khó hơn nhiều. Muốn thế, con Người phải sống thuận theo Thiên lý để đạt thế Hòa quân bình động hầu được” Thuân Vợ thuận Chồng tát bể Đông cũng cạn “, vì công việc nuôi dưỡng và dạy dỗ con Người thì đòi hỏi nhiều công sức của Tâm Trí nên khó khăn như tát biển Đông.
Cái Dịch lý đó là sự giao hòa của cặp đối cực Tính / Lý để tạo ra mối Hòa. Có Tình ( yêu thương, tôn trọng nhau ) mới lôi cuốn hai người kết lại với nhau, có Lý ( cư xử công bằng với nhau ) mới giữ được lẽ công bằng giữa hai người mới Hòa điệu gọi là cuộc
sống “ Tình Lý tương tham “. Tình và Lý luôn phải khăng khít với nhau không được tách rời trong cung cách xử thế, nếu tách rời là gây ra mất thăng bằng, bất hòa.
Tình là Đạo Nhân ( từ Trời ), tức là lòng yêu thương không điều kiện, còn Lý là Đức Nghĩa,( con Người thủ đắc nhờ Đạo ) là bổn phận đối xử công bằng với nhau kể cả đối với mình, Nghĩa có thể chi tiết thành Lễ, Trí, Tín, tức là lẽ công bằng. Lễ là trọng Mình và trọng Người, Trí là hiểu Mình và hiểu Người, Tín là tin Mình và tin Người , đấy là lối ăn ở theo lối lưỡng hành để tao ra mối liên hệ hòa.
Đây là nghệ thuật sống theo Dịch lý để hòa nhịp với tiết nhịp Hòa chung của vũ trụ.
Đó là đối với cặp Vợ Chồng, còn đối công thể xã hội thì phải tùy theo các cặp khác nhau mà có mối liên hệ Hòa khác nhau , nhưng nói chung vẫn là Tình / Lý. Đó là mối liên hệ giữa Cha Mẹ và con cái ( phụ mẫu từ, tử hiếu ), Anh Chị em với nhau ( Huyng kính đệ cung ), cũng như Chính quyền và Nhân dân ( Điều hòa giữa Nhân quyền/ Dân quyền).
3.- Diện
Diện là bộ mặt, Thể là bản chất của con người được hiện ra bên ngoài đặc biệt qua bộ mặt. “ Hữu ư trung tất hình ư ngoại:bề trong thế nào thì hiện rõ ra bộ mặt ngoài như vậy “, người hiền thì nét mặt khoan nhu dễ thương, người dữ thì bộ mặt đằng đằng sát khí. Muốn có Diện hòa nhã, thì phải tu dưỡng cái Thể, giúp cho cái Tâm được tẩm nhuận Đạo Nhân, khi có Nhân thì sắc mặt khoan nhu đầy Hòa khí. Muốn tu thì phải quy tư, bỏ hết mọi suy tư mà đón nhận ánh linh quang từ Thánh linh về Đạo Nhân và Đức Nghĩa.
Sự Thực gần thứ ba là Thể Diện của con Người.
Do đó mà con Người mới là Nhân linh hơn vạn vật.
Khi cặp Thể / Diện được hoà hợp ( tức là hợp Nội Ngoại chi đạo ) thì con người đạt Đạo, giữ được nhân cách, và có đời sống Vật chất và Tâm hồn cân bằng giúp cho cuộc sống được an hòa..
Muốn có cái Diện Đẹp thì phải trau dồi cái Thể cho Tốt. Đó là công cuộc “ Vi Nhân “. Mà “ Vi Nhân nan hĩ ! Cha ông chúng ta đã dùng lời cực mạnh để cảnh báo chúng ta” “ Làm Người ( Vi Nhân ) thì khó, làm Chó thì dễ! “
Trước hết ta phải nhận diện ra Nhân hay con Người là gì trong vũ trụ ?Không định vị
được vị trí của mình trong vũ trụ thì con người không thể hoàn thành sứ mạng “ Nhân linh ư vạn vật “ của mình. Đại khái là có nhiều quan niệm định vị về con Người:
Con Người duy Tâm là con người nô lệ cho Thần linh ( duy Thiên ), là con người mê tín dị đoan, con người trở nên yếu xìu, vì luôn sợ Trời đánh thánh vật, thường chỉ biết nài nỉ cầu xin.
Con Người Duy vật là con Người mê mải nô lệ vật chất ( Duy Địa ), coi Của trọng hơn Người,mê mải tranh danh đoạt lợi một cách bất công gây ra bao khổ đau cho nhân loại.
Con Người Duy Nhân là con người ( duy khoa học ), dọc ngang nào biết trên đầu có ai? Khoa học mà thiếu lương tâm thì gây đại tai họa. ( Science sans conscience: ruine de l’ âme ). Các cuộc đại chiến thế giới là ví dụ của những nhà khoa học hành động thiếu lương tâm.
Con Người Nho giáo được định nghĩa: “ Nhân giả kỳ Thiên Địa chi đức, Âm Dương cho giao, Quỷ Thần chi hội . . . “ : con người là cái Đức của Trời ( Vô biên ) Đất ( hữu hạn ), con Người là sự giao hòa của Âm ( Tâm linh ) Dương ( Thế sự ), là nơi hội tụ của Quỷ (Ác ) Thần ( Thiện ) ,. . .”. Con Người này không bị Trời kéo lên để trở nên Duy Tâm, không bị Đất đè xuống thành duy Vật, cũng không sống trơ trọi,” trên đầu không chằng dưới chân không chịt “, để trở thành Duy Nhân, mà là một Tạo hóa con ( là tinh hoa của Trời Đất ), con Người luôn được Trời che Đất chở, biết cách Tự chủ, tự Lực và tự Cường, đó là con người Nhân chủ, biết cách làm chủ vận hệ mình, gia đình mình và đất nước mình, để mọi người sống trong hòa khí. ( Thiên sinh Địa dưỡng Nhân hòa )
III.- Tòa Nhà ba gian
1.- Thái hòa
Khi nói đến hòa, thì là hòa với ai, nghĩa là ít nhất phải có hai người, mà hai người này còn mâu thuẫn với nhau. Cặp đối cực sơ nguyên của Viêt tộc là Tiên Rồng. Các đối cực như Tiên / Rồng, Vợ / Chồng hay Âm / Dương luôn luôn níu kéo xô đẩy nhau để đạt trạng thái quân bình động, như hai đối cực Ly Tâm và quy Tâm tạo nên thế quân bình động mà các thiên thể được treo lơ lửng trong khôngian. Cặp đối cực này là nền tảng của Dịch Việt. Không phải hai đối cực nào cũng giao thoa được, chỉ khi nào đạt tỷ lệ co dãn ( Trời Đất: 3 / 2: Tham Thiên lưỡng Địa ) thì mới đạt trạng thái quân bình động mà Hòa. Hai đối cực có cách biệt nhau thì mới biến hóa được, có cách biệt vừa đủ thì mới tạo được thế quân bình động. Cái hòa này cũng được thể hiện khắp mọi cảnh vực trong vũ trụ, nên gọi là Thái hòa, nhờ hòa được trong thế quân bình động nên luôn Tiến hóa và Trường tồn, cái hòa do thuận với thiên lý. Từ Đại Đạo Âm Dương hoà ta có thể tìm ra sự Hòa trong tất cả mọi cặp đối cực tương ứng:
1.- Con Người phải Hoà được Tâm với Vật, Tình với Lý ( nhờ Ngũ thường: Đạo đức cá nhân: Tiêu chuẩn yêu thương, tôn trọng và cư xử công bằng với tất cả mọi người, kể cả trẻ con và những người hèn kém ), nhờ đó mà mọi người được Tâm an, Thân lạc.
2.- Gia đình và xã hội được Hòa là nhờ vào Công lý xã hội ( sống Hòa theo tiêu chuẩn Ngũ luân: tiêu chuẩn công bằng ), thì mọi người được hòa giúp cho cuộc sống an vui.
3.- Trong các cơ chế xã hội như:
a.- Chính trị: Phải điều hòa được hai đối cực Nhân quyền ( thuộc Nhân ) và Dân quyền ( thuộc Dân ) . Nhờ nhân quyền mà mọi người có cơ hôi và điều kiện phát triển toàn diện, cũng nhờ Nhân quyền được tôn trọng mà Dân quyền được nâng cao, nhờ đó mà dân được giàu, nước mạnh.
b.- Giáo dục: Phải điều hòa được hai đối cực Thành Nhân và thành Thân. Thành Nhân nhờ un được Đức, thành Thân nhờ luyện thành Tài. Đào luyện cho mọi người đầy đủ Đức Tài là nhiệm vụ chính yếu và vẹn toàn của Giáo dục. hiện nay nền Giáo dục thế giới vẫn còn chập chững một chân “ thành Thân “ như người thọt.
c.- Kinh tế: Có điều hòa được hai đối cực Công hữu và Tư hữu, thì mới giúp sự cách biệt Giàu Nghèo trong xã hội không quá chênh lệch. Việc này tương đối giải quyết nạn bất Công làm rối loại xã hội.
d.- Xã hội: Phải điều hòa hai đối cực Dân Sinh và Dân Trí. Nhờ Dân Sinh được nâng cao mới thoát được cái khó, vì cái khó ngăn cản sự phát triển của Dân Trí. Hai đối cực này phải được phát triển đồng bộ để nâng đỡ lẫn nhau. Không thể viện cớ lo phát triển kinh tế trước mà lờ đi công việc giải quyết đồng thời các nan đề Dân Sinh và Dân Trí của xã hội, đó là lối nguỵ biện của nhà cầm quyền bất lực mà gian tham.
4.- Trên bình diện quốc tế thì phải thực hiện “ Tứ hải giai huynh đệ ” để cho thế giới hòa bình. Trên thế giới hiện nay đã có “ Thị trường chung’, nói là để giúp nhau ăn nên làm ra, nhưng
cần phải có Đạo trường chung để giúp sự phân phối quyền lợi cho được tương đối công bằng hầu tránh khủng hoảng do sự bất Công.
5.- Trên cấp siêu hình:Thì phải hoà được giữa Hữu vi và Vô vi để đạt An vi ( Kim Định ) để cuộc sống được phong lưu.
Tỷ lệ Hòa Vài Ba ( 2- 3 ) hay Tham Thiên lưỡng Địa nhi ỷ số ( 3 – 2) là Cơ cấu của nền Văn hoá Đông Nam ).
Thế giới hôm nay đã đánh mất sự sống Hoà giữa con người với nhau, do sự bất Công, cũng như làm đảo lộn Tiết nhịp vũ trụ do sự ô nhiễm mọi thứ Môi trường. Đó là hậu quả của sự sống của loài Người đang ngược chiều với Dịch lý, ( Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong )
2.- Nhân chủ
Con người Việt tộc là “ Thiên Địa chi giao, quỷ thần chi hội. .” Con người này không Duy tâm, nên không bị Trời kéo lên làm nô lệ Thần linh ( mà Thần linh đâu cần nô lệ ), cũng không bị Đất lôi xuống làm nô lệ vật chất, ( vật chất vô tri, nên chẳng đòi hỏi gì ) mà luôn giữ được thế quân bình giữa hai đối cực Thiên Địa, nên đạt tính chất Tự chủ. Muốn giữ được thế tự Chủ thì phải tự Lực, tự Cường. Đây là con Người biết trực diện với nhiệm vụ “ vi Nhân “, nên đủ khả năng làm chủ trong mọi tình huống. Không xây dựng được con người Nhân chủ thì không đủ khả năng và tư cách sống hòa, không thể giải quyết những khuynh hướng và khủng hoảng thời đại gây nên bất hòa. Không có con người này thì lấy khả năng và tư cách nào mà giữ cho nhà khỏi tan nước khỏi mất! Khi một đất nước mà đa số con dân mất tính chất tự chủ cách này hay cách khác thì trước sau gì cũng bị nô lệ.
Vì bị nô lệ lâu dài mà đất nước chúng ta đã đánh mất con người Phù Đổng, Bà Trưng Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Quang Trung. . . Con Người Nhân chủ là vấn đế quan trọng bậc nhất. Nói cứu nhà cứu nước mà không lo xây dựng con người Nhân chủ, mà bàn những chuyện bì phu ngoài hiện tượng, thì chỉ là bàn chuyện lạc đề. Không có con người tốt thì làm sao được những việc tốt. Nói cứu nhà cứu nước, mà không lưu tâm xây dựng lại con người và phương cách xây dựng các cơ chế xã hội cho được công bằng tốt đẹp, mà chỉ chuyên bàn chuyện vạch lá tìm sâu nhau thì phỏng có ích gì. Khi muốn xây dựng thì phải biết rõ xây dựng những gì và cách nào mới được, việc phá hoại và xây dựng phải được giải quyết đồng thời thì mới có tác dụng.
Cộng sản thắng Quốc gia đương nhiên phải nhận là ta bị thua, ta thua là vì ta kém hơn, dù bất cứ lý do gì, ta kém là vì ta chưa đủ Đức thiếu Tài để thắng mọi trở lực, chỉ lo diệt cộng mà quên xây dựng Đức Tài cho chính ta thì phỏng ta có làm được gì tốt đẹp sau đó không? Cộng sản đã sai trăm phần trăm, nhưng phỏng chúng ta có khả năng làm được nhiều việc tốt hơn không ? Có vô số vấn đề về phía chúng ta mà mọi người phải lưu tâm. Trong thời đại khoa học kỹ thuật này, không việc nào mà chúng ta có thể nói khơi khơi được!
3.-Tâm linh
Con người là nơi giao thoa của cặp đối cực Thiên Địa. Khi hướng Ngoại về Địa thì phải suy tư, khi hướng Nội về Thiên thì phải quy tư, nên phải biết suy tư lẫn quy tư. Suy tư để để ra sống với thế sự, quy tư để trở về nguồn Tâm linh. Quy tư về Nguồn để được tiếp liệu Nhân Nghĩa mà ra sống sung mãn trên đời. Nguồn Tâm linh là Thượng đế, tức là nguồn Sống ( Bác ái ) và nguồn Sáng ( công bằng ) hay là Nhân với Nghĩa.
Vấn đề rối loạn của nhân loại ngày nay là do nạn quên lảng nguồn gốc Tâm linh. Khi cái Nguồn nhựa Sống này bị tắc nghẹn thì bao nhiêu ngành ngọn liên quan cũng đều héo khô tàn tạ. Do đó con Người đánh mất nguồn Tình thâm và Lý công chính thì là mất Gốc.
Bệnh của thời đại là bệnh quên nguồn gốc Tâm linh, quên Tâm linh là quên nguồn Tình và nguồn Lý công chính. Quên Tình yêu và Lý công bằng thì rồi ra mọi người cứ dẫm đạp lên nhau mà sống. Vong Tâm linh sẽ kéo theo vong Thân, vong Gia, vong Quốc và vong Nô.
IV.- Tòa nhà hai mái: Nơi Gió thoảng trên Trời, chốn Nước lững lờ trôi dưới suối
Khi con Người biết sống thuận Thiên nghĩa là theo Dịch lý thì có khả năng dàn hoà mọi mâu thuẫn của cặp đối cực, nên loại trừ được các khuynh hướng đảo điên, do đó không tạo ra khủng hoảng, Đó là nền văn hoá thái hoà hay là nền Văn hoá “ Bất đảo Ông “, vì luôn lập được thế quân bình động.
Trong nền văn hoá này, con người chọn sống nơi rộng nhất của Thiên hạ, đó đạo Nhân, và hành động kiên trì công bằng nhờ đức Nghĩa, nghĩa là luôn biết chiết trung, hay chấp kỳ lưỡng đoan để đạt thế quân bình động.
Tam cương : Nhân, Trí, Dũng là hành trang sống ở đời. Có Nhân thì gần được với mọi người, đủ Nghĩa thì biết hành xử “ phải Người phải Ta “ mà hòa với nhau, nhờ đức Dũng mà duy trì được Nhân Nghĩa, nên luôn lập được mối giao với lân nhân trong mọi hoàn cảnh. Trong cách vi nhân “ suốt đời cố gắng hoàn thiện mọi việc từ nhỏ đến việc to, từ việc gần tới xa, cũng như hoàn thiên các mối liên hệ với lân nhân theo tiêu chuẩn “ Dĩ hòa vi quý”. Nhờ sống theo Dịch lý, nhận biết mọi sự trên đời này là “ Thực nhược hư, hữu nhược vô : có không không có “, mọi vật trong thế giới hiện tượng biến đổi không ngừng, không thể bám vào, nên hành động không quá theo lối Lợi hành mà lạm dụng như tư bản, cũng không Cưỡng hành mà bất cập như CS, mà là An hành trong tiết độ , nghĩa là hành động theo Nhân Nghĩa, làm mọi việc đến cùng cực, vui lòng chấp nhận mọi đắc thất ở đời, phó thác mọi sự cho Trời cao ( Tận nhân lực, tri Thiên mạng ) để cho cõi lòng luôn được an nhiên tự tại, hầu đạt tới cuộc sống phong lưu: tâm hồn lâng lâng như làn gió thoảng qua, như dòng nước lững lờ bên bờ suối vắng. Đó là phong thái an vi của cuộc sống phong lưu. Con người không bao giờ cảm được hạnh phúc chân thực khi chưa đạt tới đời sống phong lưu.
C.- Cung cách Vi Nhân của Tổ tiên
1.- Quan niệm Vi Nhân theo Lối Lương hợp
Là một “ Tạo hóa con” được bẩm thụ anh linh tú khí của Trời Đất, nên “ Nhân linh ư vạn vật : con người linh thiêng hơn vạn vật “, vì con Người từ gốc Tâm linh mà ra , đó là nguồn Sống và nguồn Sáng tự Trời cao, khi ra sống ở đời bị tiêu hao năng lượng, nên phải trở về nguồn để tiếp nhận thêm sức sống ( Tình Yêu ) và nguồn sáng ( Lý công chính ). Các nhà huyền niệm cho biết năng lượng mà ta thu được trong giấc ngủ mỗi đêm còn nhiều hơn năng lượng từ thức ăn ban ngày.
Vậy muốn trở thành con Người Nhân chủ, thì con người phải sống thuận Thiên, nghĩa là phải sống theo Dịch lý. Mà Dịch là “ nghịch số chi lý: Dịch là chân lý ngược chiều như thở ra ( hướng ngoại ) và thở vào ( hướng nội ). Hướng Ngoại là ra sống ở Đời, để khám phá vũ trụ vật chất để giúp con người phát triển toàn diện, đây là lãnh vực của Lý trí, cái gì cũng rõ ràng khúc chiết, hầu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Tây phương phát triển cao độ về lãnh vực này.
Còn hướng Nội là trở về với Đạo, Đạo là đường về nguồn u linh man mác của Tâm linh tức là Thượng Đế, cũng là nguồn Bác ái và công bằng ( Kitô giáo ), hay Nhân, Trí ( Nho giáo ) hay Bi, Trí ( Phật giáo ), nói chung là Tình và Lý. Có đi về nguồn để un đúc đủ hành trang về Tính và Lý thì con người mới sống hoà với nhau cũng như kết hợp với thiên lý mới an vui được. Đông phương trổi vượt về lãnh vực này.
2.- Đường về Tâm linh: Nghịch lý với Thế sự
Tâm linh là lãnh vực của Tình, là những gì u linh man mác, không thể lý giải, chỉ có thể cảm nghiệm và thể nghiệm được mà thôi. Đông phương trổi vượt về lãnh vực này, người ta đã bảo qua 25 thế kỷ nay Tây phương chưa chú ý về con đường Tâm linh. Muốn đi về nguồn Tâm linh thì phải phá chấp bỏ hết mọi sự thủ đắc ở đời, kể cả tôn giáo cũng như luân thường đạo lý,( vì những thứ đó chỉ để sống ở đời mà thôi ), có thế mới trần trụi như lúc vừa mới ra đời hầu mong qua cửa hẹp được, vì đây là lãnh vực của Vô, của cõi Tĩnh.
Muốn đi vào cõi Tĩnh thì phải theo lối:“ Dịch nghịch số chi lý, vô tư, vô vi dã, tịch nhiên bất động nhi cảm thông thiên hạ chi cố: Dịch là chân lý ngược chiều, bỏ hết mọi suy tư ( no – mind ), sống thuận theo thiên lý, ngồi bất động để được Định và Tĩnh mới cảm thông được lẽ Biến dịch của Trời Đất “
Lối tu của Phật giáo phải trải qua ba giai đoạn: Giới, Định, Tuệ. Gới để thanh tẩy hết trần cấu, bỏ hết ngã chấp để được Định mà vén màn vô minh ( Tham, Sân, Si ), hầu lãnh nhận ánh sáng của Tuệ giác tức là giác ngộ.
Còn Nho giáo thì qua 5 giai đoạn: Định, Tĩnh, An, Lự, Đắc.( Định nhi hậu năng Tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc )
Còn Kitô giáo thì qua ba giai đoạn: Purgartoire ( Thanh lọc ), Unitive ( kết hợp với Chúa ), Illuminative ( Nên Thánh ).
Có điều quan trọng là muốn trở về gốc Đạo thì phải qua cửa ngõ ( portal ) Tâm: ( Thân Tâm hợp nhất,) Tâm là cửa ngõ để vào nguồn Tình, nên mới gọi là Tâm Tình, không có Tình thì hết là con người ( mất Nhân tình ). Tâm không phải là con Tim, mà là điểm linh quang con người được nối kết với vũ trụ gọi là “ vũ trụ chi Tâm “, không biết có phải là giao điểm của huyệt đan điền ( Trọng tâm của thể chất ) và Huệ nhãn ( trọng tâm của tinh thần ). Huệ nhãn ở giữa cầu nối corpus callossum của bán cầu nào bên phải và bên trái chăng?Không biết có phải là giao điểm Thân Tâm nối kết với Singularirty của Big Bang không?
Biết được đường về Nguồn là rất khó, mà tu luyện cho đạt Đạo lại muôn vàn khó khăn. Chỉ có các bậc chân tu soi đường chỉ lối mới bớt công mò mẫm.
3.- Cung cách sống ở đời.
Là một Tạo hóa con nên con Người cũng có thể biết cách triệt thượng đi về nguồn gốc Tâm linh của mình và cũng phải triệt hạ để nhận ra trong mọi cái tinh vi đều chứa cái vĩ đại mà trong vĩ đại nào cũng có sẵn cái tinh vi, vì “ nhân nhân vật vật các hữu Thái cực ( 2 ) : Người nào vật nào cũng đều chứa Thái cực ( cũng là Âm - , Dương + như các nguyên tử ) “, mà “ Thái cực nhi Vô cực: Âm Dương hòa ” tức là Thượng Đế ( phải vượt lên khỏi cặp tương đối phân chia Nhĩ Ngã ở thế giới hiện tượng, mới đạt tới vô biên được ). Nhờ ‘ Vạn vật đồng nhất thể nên có thể tương liên qua các tần số mà mọi vật cảm thông với nhau được. Và cũng nhờ đó mà ở đâu trong trần thế chúng ta cũng nhận ra những công trình tinh vi và vĩ đại của Thượng Đế, chứ không thể biết Thượng Đế ra sao, theo Nho thì Ngài là “ vô hình, vô tướng, vô sắc, vô thanh, vô xú “, làm sao chúng ta có thể tượng tượng ra mà gán cho Ngài một Nhân hình.
4.- Sống Huyền đồng với Thượng Đế theo nhịp Thiên lý ( Dịch lý )
Ai cũng biết rằng chúng ta đang sống trong Không gian và Thời gian. Vào thế kỷ thứ 19, Einstein đã nhận ra Không và Thời gian là hai mô nguyên thủy đan kết với nhau ( hay hai sợi Canh và Chỉ dệt với nhau ) mà sinh ra vạn vật. Còn Tổ tiên Lạc Việt từ ngàn xưa đã biết hai số Chẵn ( Không gian ) và Lẻ ( Thời gian ) đã đan kết với nhau theo Hướng và Phương của chữ Vãn và Vạn mà sinh ra vạn vật. Vậy con Người chúng ta cũng đã được cấu tạo bởi Không và Thời gian. Tuy linh hơn vạn vật, nhưng con Người vẫn bị định vị trong Không gian ( Nơi Đây ) và Thời gian ( Bây Giờ ). Vì ở trong Không gian nên bị giới hạn, nhưng nhờ chứa yếu tố Thời gian mà con người vươn lên vô biên được.
Để cảm nhận được vẻ Đẹp, sự Uy linh, và Huyền diệu của Tạo hoá, trong một đêm tĩnh mịch sáng trong, ngước mắt nhìn lên trời cao, chúng ta bị kinh ngợp bởi sự bất động tuyệt đối và bao la của vũ trụ. Có bao giờ chúng ta nghe được tiếng suối róc rách đêm vắng trong rừng sâu, mới cảm nhận được sự uy linh huyền nhiệm?
Khi ngủ trong rừng thẳm giữa Việt Nam và Lào, tôi được nghe đôi chim Từ quy ( nghe người ta nói và nghe tiếng chim kêu, chứ không biết hình dạng chúng ra sao ), từ nửa đêm, con đực từ bên đỉnh núi này, con cái ở bên đỉnh kia, hai con cứ từng lúc vừa kêu ứng đáp cầm canh, mỗi lúc mỗi xuống mái núi gần nhau hơn, cho đến lúc hai con tới hai mái núi giáp nhau, thì cùng nhau vụt bay đi, đó là lúc trời vụt sáng. Không biết chúng sẽ gặp nhau, hay bay xa nhau, nhưng phỏng đây có phải là tiếng gọi của Âm Dương hoà ? Trong mỗi khoảnh khắc của từng tiếng kêu đó chúng ta cảm nhận sâu xa được cái u linh tĩnh mặc của trời cao trong rừng sâu đêm vắng.
Không gian là chỗ để cho mọi vật hiện diện, vì không có “ vật hình “ thì Không gian chẳng được hiển lộ. Cũng vậy khi âm thanh phát ra, thì ta mới nhận thức được sư im lặng ( tĩnh mịch ) từ cõi xa xăm..
Các thiên thể có hiện diện trên trời cao, ta mới nhận được sư bao la của không gian, có tiếng động trong đêm vắng lặng ta mới nhận được sự tĩnh mịch của thời gian. Nhờ sự bất động và im lặng hoàn toàn, nghĩa là khi chúng ta không còn suy tư, thì ta mới cảm thông được với vũ trụ, hầu cảm nhận được luồng ) linh lực )sinh sinh hoá trong vũ trụ, đó chính là lúc chúng ta hiện hữu hoàn toàn Nơi Đây ( Không gian ) và Bây Giờ ( Thời gian ). Các thiên thể to lớn bay lơ lững trên Trời cao, các hạt bụi nhỏ nhoi trên không, những cọng rau ngọn cỏ dưới mặt Đất, ngay chính với cơ thể ta cũng vậy, đang từng sát na liên tục triển diện chu trình tiểu diễn: sinh, thành, suy, huỷ theo Dịch lý.
Sống bắt nhịp được với các tần số của sự sinh sinh hóa hoá đó thì ta mới cảm ứng, mới kết hợp được với vũ trụ, tức là ăn nhập vào trong tiến trình sáng tạo, thì khi đó ta mới cảm nhận được nguồn vui.( creation and joy ) Đó thực sự là phép lạ của Tạo hóa đang xẩy ra không ngừng khắp mọi nơi trong “ Hiện tại miên trường : ever present “. Phép lạ của Thượng Đế xẩy ra triền miên Nơi Đây và Bây Giờ, chứ không cần phải tìm đâu xa? Không cảm nhận được những phép lạ trong ta cũng như các vật quanh ta thì làm sao chúng ta cảm nhận được phép lạ của Thượng Đế nơi xa xăm nào? Một cái hạt nhỏ xíu nảy mầm thành một cây to với thân cành hoa quả xum xuê, với cơ thể con người mấy chục ký, cũng như ức hà sa số vạn vật đều là những vũ trụ nhỏ nhoi với vô vàn biến hóa vô cùng huyền diệu đó sao?
Ngay đến một hạt bụi cho là vô sinh cũng biến hoá không ngừng ! Có phép lạ nào to lớn hơn những phép lạ kỳ diệu xẩy ra liên lỉ quanh và trong ta.
Vây không đi về Tâm trong môi trường bất động ( stillness ) và im lặng ( Silence ) thì không thể cảm nhận được sự biến hoá, không thể kết hợp được với tần số biến hoá của vũ trụ. Nói Nhân linh là nói con người cũng linh thiêng, mà linh như Thần, Thần lại vô phương, nghĩa là ở đâu Thần cũng hiện diện,( ubiquitous ), tuy chậm hay nhanh, vật nào vật đều phát ra được những tần số, nhờ những tần số truyền ra và giao thoa nhau trong vũ trụ mà Thiên, Địa, Nhân có thể tham thông hội ngộ.
Ta thường nói : Cầu xin Hồn thiêng Sông Núi, thì phải hiểu Hồn Thiêng Sông là Trí ( Cha nước Trí ) , Hồn Thiêng Núi là Nhân ( Mẹ Non Nhân ). Muốn bắt gặp Hồn thiêng Sông Núi thì ta phải suy tư, ăn ở theo Nhân Trí để phát ra những tần số “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu “mới mong hội ngộ.
5.- Vi Nhân: ở Nơi Đây và Bây Giờ
Nho quan niêm “ Con Người là Qủy Thần chi hội. . . “ , trong mỗi con Người, hai yếu tố Quỷ và Thánh kề sát lưng nhau, vì ở trong thế giới hiện tượng nhị phân, con người cũng như cây biết Lành và Dữ. Thường người ta chỉ nghĩ công tác Vi nhân bắt đầu từ khi mới sinh, rồi học hành cho có nghề nghiệp, đến khi lập gia đình là chấm dứt, sau đó cứ thản nhiệm lo ăn lo làm mà sống. Thực ra, con người không là “ đã thành “ , mà là luôn luôn “ đang thành “, và con Người dòn mỏng lắm yếu đuối lắm, trong con người Quỷ Thánh kề sát lưng nhau, phút này là Thánh, giây sau đã là Quỷ rồi, khó mà lường được, người tu trì càng ở trên cao, gió càng lay mạnh, không dễ gì mà giữ được lành thánh dài dài, vì thế cho nên phải Vi Nhân liên lỉ: Vi Nhân nan hĩ ! Liên lỉ cho đến lúc nhắm mắt buông tay mới thôi!
Khởi đầu của những vấn nạn con người và xã hội là tại nơi đây. Nơi đây đang rối loạn, đang cần Tình người, đang cần sự công chính. Không Vi Nhân thì không có Nhân Tình, Không còn Tình thì đánh mất Nhân Tính, không có Nhân Tính, thì không thể ăn ở công bằng vói nhau, nên mới dành miếng ăn với nhau theo Vật Tính của lang sói, do đó mà xã hội rối loạn.
Mặt khác Vi Nhân để cải thiện môi trường sống Nơi đây và Bây Giờ cho được hoàn hảo hơn theo tiết nhịp cũa vũ trụ. Có hoàn thiện được đời sống ngay Nơi Đây và Bây giờ trong hiện tại miên trường thì mới mong kết hợp được với Thượng Đế ở đời sau. Bỏ quên cuộc sống rắc rối đời nay, tức là bỏ cái Hiện tại đang sống này, bỏ cái Nơi Đây và Bây Giờ, thì làm sao mà có được cái Tương lai, vì Tương lai phải là kết quả cố gắng vi Nhân của từng giây phút sống trong Hiện tại, tự mình phải tạo dựng lấy, vì con Người là một tác hành, một Tạo hóa con, không thể xin xỏ ai được, ngay với Thượng Đế, vì mọi sự Ngài đã hoàn tất rồi, Ngài không thể thỏa mãn đơn đặt hàng cầu khẩn của nhân thế mà sáng tạo thêm nữa!
6.- Vi Nhân: Bám sát vào Hiện tại miên trường
Vì ai ai cũng phải vi nhân cả, từ người cao nhất đến kẻ thấp cổ bé miệng nhất đều phải vi nhân cả ( Tự thiên tử chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản ), để mà biết cách sống Hòa với nhau, nên
cách Vi nhân trước hết là phải Dễ và Đơn giản ( Dĩ, tắc dĩ Tri, Giản, tắc dĩ Tòng: Cần phải Dễ để ai cũng nhận biết được, phải Đơn giản để ai cũng có thể làm theo được ) để cho ai ai cũng Vi Nhân được. Khi nào Vi Nhân cũng bắt đầu từ cái Gần đến cái Xa, từ cái Nhỏ đến cái To, từ cái Dễ đến cái Khó, từ cái Đơn giản đến cái Phức tạp, làm từ lúc Nhỏ mới sinh cho tới lúc Già lìa đời, và Vi nhân liên lỉ theo hiện tại miên trường. Hiện tại miên trường là lúc nào cũng để hết Tâm Trí vào sự sống hiện hữu của mình trong mọi khỏanh khắc, giây phút nào cũng sống, hành xử mọi việc trọn vẹn trong Hiên tại, chứ không mê mãi theo Thời gian Tâm lý, chia Thời gian ra Quá khứ, Hiện tại và Tương lai, để người ta bị giam hãm trong những thời gian vàng son hay lầm lỡ của Quá khứ, rồi lại tìm cách thoát ly bằng cách mộng tưởng vào hy vọng hảo huyền Tương lai, mà quên mất Hiên tại, như vậy là quên mất cái “ Hiện tại miên trường Vi nhân “.
Do đó mà con người quên mất cái Đây ( không gian đang sống ) và cái Bây ( từng giây phút đang hiện diện ). Quên lãng cái Đây và cái Bây là quên mất sự hoạt động của cuộc sống, thì làm sao mà phát triển toàn diện con người, vì tương lại được kết thành bởi những thành quả của hiện tại. Giây phút nào cũng sống tròn đầy trong hiện tại thì làm sao mà chẳng có tương lai. Còn quá khứ là những gì đã qua, ôm lấy quá khứ là ngừng sống, mơ mộng tương lai chỉ là ảo tưởng. Giây phút nào cũng sống sung mãn với hiện tại, đó là hiện tại miên trường. Quên hiện tại miên trưòng là quên sống, quên sống thì làm sao bắt được tiết nhịp sinh hoá của vũ trụ mà cảm thông với Thượng Đế, để mà phát triển toàn diện con người, giúp cho cuộc sống đầy sinh thú, vì có sống sung mãn thì phải hoạt động triền miên, mà có hoạt động thì mới sáng tạo, khi có sáng tạo ngay trong những việc nhỏ nhoi hàng ngày đều đem lại nguồn vui, nguồn sống từ đấng trời cao.
Vi Nhân : Hoàn thiện mọi việc làm và mọi giao liên Xử thế
Để được phát triển toàn diện, hàng ngày con Người phải hoàn thiện hai lãnh vực: Hoàn thiện mọi việc làm ( thành Thân ), và hoàn thiện các mối giao liên ( thành Nhân ) để cho cuộc sống mọi người giao hòa với tiếp nhịp Hòa của Vũ trụ, tức là đạt Thể Hòa trong thế quân bình động, như sự cân bằng động của sức Ly và Quy Tâm của các Thiên thể cũng như sự thở Ra và Thở Vào nhịp nhàng nơi con người.
Hoàn thiện mọi việc từ Nhỏ tới Lớn, bắt đầu từ thuở ấu nhi, phải tập dữ tính thành, tức là tập lấy tính tốt thành thói quen, để rồi dùng thói quen tốt thắng tính xấu. Hoàn thiện Cái gì? Cha ông chúng ta đã bảo: “ Học Ăn, học Nói, học Gói, học Mở “.
“ Học Ăn “ để thủ đắc những giá trị Chân , Thiện, Mỹ ( như đã bàn trên );.
“ Học Nói để thực hiện lời dạy “ Lời Nói chẳng mất tiển mua, liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau “ đây chẳng qua là cách cư xử để luôn lập được mối giao hòa với mọi người,”, lấy Tiêu chuẩn : “ Dĩ Hòa vi quý “ mà sống với nhau.
“ Học Gói ( Vào ), học Mở ( Ra) “ là học sống theo lưỡng hành, giúp sống hòa với nhịp “ Lưỡng hợp “ của Dịch lý..
Tuy là việc nhỏ nhưng lại vô cùng khó khăn: ví dụ khi đánh răng, ta phải đánh thế nào với kỹ thuật và nghệ thuật trong những việc nhỏ nhất: tốn ít kem răng, ít nước, ít thì giờ, ít công sức, mà hiệu quả giúp răng được bảo vệ tốt nhất, làm sao cho công việc này liên tục ngày một tăng tiến hoàn hảo hơn. Ngay đến cái việc lau nhà, quét sân, nấu ăn, cày bừa, học hành, làm bất cứ việc gì, nhất là việc tu thân . . đều phải Học và Làm với tinh thần hoàn hảo nhất, khinh thường điều đó là quên cung cách vi nhân tích cực, cái gì cũng làm với tinh thần tiết độ, không hơn không kém ( no more , no less ). Đó là perfect of things.
Còn hoàn thiện mối giao liên tức là perfect for being thì trong cách giao tiếp với mọi người trong nhà cũng như mọi người khác cũng bằng cách thể hiện lòng “ Yêu thương. Kính trọng và cư xử Công bằng với nhau” hầu làm hòa với nhau theo” tinh thần Tương dung” để “ Dĩ Hòa vi quý “, kề
cả những trẻ em, đừng có xem thường trẻ em chưa biết gì. Nhân loại đang thất bại trong hai vấn đề hoàn thiện này!
Nho giáo thì bảo mỗi cá nhân phải “ tu trì theo Ngũ thường: Đạo Đức cá nhân ” và mọi người phải “ cử xử công bằng” với nhau theo mối giao liên “ Ngũ luân: Công lý xã hội” Hán Nho ( confucianisme ) đã làm cho luân thường đạo lý Nho bị sa đoạ, nên chúng ta dè bĩu lầm vào Nho, vì Hán Nho chỉ tầm chương trích cú, đã không nhận ra sự quan trong và tinh hoa của vấn đề Vi Nhân,
vì không rõ được sự quan trọng của hành Thổ ( Tức là Tâm linh ). Ngày nay nhắc tới vần đề Vi Nhân thì người ta cho là cổ hủ lạc hậu, nhưng việc “ Làm Người: vi Nhân “ thì “ bao giờ còn là Người “ thì vẫn phải làm và làm hết mình, lấy cớ văn minh mà quên làm người thì vô tình để mình dần hoá ra ngợm mà không hay, do đó xã hội mới loạn. Bỏ mất Tình mà chỉ cứ thiên lý vạn lý kèn cựa nhau, khích bác nhau thì mọi sự đều bị nát bấn như tương thì làm gì mà không loạn!
Nếu hoàn thiện được hai mục tiêu trên thì không những xã hội được an vui, mà nhất là sẽ đem lại cho mỗi một chúng ta những nguồn vui mới , tức cuộc sống chúng ta đã kết hợp được nguồn sống của Thượng Đế, nguồn hạnh phúc an bình miên viễn. Được như vậy thì cuộc đời này thật đáng sống và cũng là một đảm bảo cho cuộc sống hạnh phúc đời sau, đây là cuộc sống vẹn toàn.
Để được sống như thế chúng ta phải vượt qua những khó khăn gian nguy ở đời, biết vượt qua lượng số nặng nề để đạt tới những phẩm chất ngày càng tinh vi như lối sống của Mẹ Âu cơ bay bổng trên trới cao, vì đối với vật chất càng nhiều càng quý, nhưng với tinh thần thì càng ít mới có thể đạt Đạo.
Do đó mà Tổ tiên chúng ta mới có cái tên Việt, nghĩa la siêu việt.
7.- Vi nhân: Tận nhân lực và Tri Thiên mạng ( Phó thác )
Phong là gió thoảng trên Trời cao, Lưu là dòng nước lửng lờ trôi dưới suối ( Đất ). Đây là hiện tượng thiên nhiên nhịp theo vận hành của vũ trụ, cuộc sống phong lưu là cuộc sống an nhiên tự tại nghĩa là theo tiết nhịp của Trời Đất, cuộc sống an trụ bất động Tâm. Muốn có cuộc sống bất động Tâm thì con Người phải sống nhịp nhàng với cuộc sống Chấp Phá. Phật giáo cho thời gian là nguyên nhân gây ra vô thường, làm cho cho con người khổ đau, cho mọi sự trên đời đều là ảo hóa, nên phải xuất thế.
Còn Nho giáo nhận ra Dịch lý tức là tiết nhịp biến hóa của Vũ trụ, do mọi vật chất đều biến đổi không ngừng, mọi vật đều có một tần số khác biệt, vật có tần số thấp thì nặng, vật có tần số cao thì nhẹ, các vật có cùng tần số thì hội tụ với nhau theo luật “ Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu “, còn các loại tần số khác nhau thì cũng hòa theo nhịp vận hành chung của vũ trụ ( Đại diễn: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh ) gọi là cosmic rhythm. Sống hợp theo tiết nhịp đó là cuộc sống thuận Thiên.
Nho giáo coi Thời và Không gian là phương thế để lập công Vi nhân, nên lao mình vào con đường Xử thế.
Công việc Vi Nhân khó là vì con người phải làm sao điều hòa được hai lối sống ngược chiều: một Động, một Tĩnh. Khi ra Thế sự thì phải Động để mà thủ đắc vật chất mà vui sống, nhưng nhận thấy vật chất biến đổi không ngừng ,” có đó mà không đó, một đời ta , ba bảy đời nó: Thực nhược hư , hữu nhược vô “, nếu cuộc sống cứ bám vào sự vật biến đổi thì không bao giờ ngừng được để đi về cõi Tĩnh, là nguồn gốc của sự sống. Không trở về nguồn để tiếp nhận thêm sức sống thì mất Gốc,mất Gốc là mất Tình Người và lý công chính. Con Người không thể đi một chân hoặc chỉ Chấp hay chỉ Phá, điều này sẽ làm cho cuộc sống mất quân bình, nên gây ra khủng hoảng. Vậy con Người phải sống điều hòa giữa ba động nhịp nhàng của Chấp và Phá mới an trụ được trong thế quân bình động.Muốn Tâm đượcTĩnh, thì phải dẹp cái Động của Tư tưởng lẫn Hành động.
Mặt khác, trong cuộc sống con người phải hành động thuận theo Thiên lý, không để bị Cưỡng hành như trong các chế độ độc tài làm mất Tự do, cũng không quá Lợi hành như trong chế độ Tư bản, làm cho con người vong thân, sa vào tình trạng vật chủ, mà phải An hành, thấy việc hợp theo Đạo Nghĩa của Thiên lý là gắng sức làm, rồi mọi sự phó thác cho Thiên ý, không quan tâm nhiều đến thành quả đắc thất, vì chính sự tận nhân lực đã mang theo kết quả thích hợp rồi. Khi Tâm không bị giao đông trong cuốc sống hàng ngày thì được an nhiên tự tại, nên có niềm vui và hạnh phúc an bình. Đó mới
là niềm hạnh phúc thật, vì luôn được an bình nội tâm, còn hạnh phúc trần gian thì phải có điều kiện vật chất của thế giới động.
Cuộc sống Phong Lưu là cuộc sống thuận Thiên lý, cuộc sống hòa điệu với tiết nhịp vũ trụ.
D.- Kết luận
Tiên Nho đã bảo: “ Thể Dụng nhất Nguyên, Hiển Vi vô gián “, nên “ Cố ly vật cầu Đạo giả, vọng nhi dĩ hĩ : Đạo Đời cùng một gốc, Đạo với Đời là cặp đối cực xoắn xít lấy nhau, nên tìm Đạo ngoài sự vật là vọng tưởng vậy “
Nhưng thói thường con người lại luôn ham Thanh mà lánh Tục, thích Xa mà ghét Gần, ham To mà quên Nhỏ, mê Lý mà bỏ Tình, tìm cái Vĩ đại mà bỏ qua cái Tinh vi.
Khốn nỗi, mọi sự đều là những cặp đối cực xoắn xít vơi nhau, nên bỏ Nhỏ thì mất To, bỏ Tục thì lấy gì mà tạo nên Thanh, bỏ Tình thì mất cận thân, chỉ duy Lý thì gây chia cách, không nhận ra Tinh vi thì để vụt mất Vĩ đại, vì Vĩ đại tiềm ẩn trong cái Tinh vi, bỏ Gần thì quên cả chính mình và các nhu yếu của đời mình, đó là vong Thân. Đó là khởi đầu cho vong Gia, vong Quốc và vong Nô.” Cái sảy “ khuynh hướng thiên lệch “ nảy cái ung “ Khủng hoảng thời đại ” là thế!
Khốn cho dân tộc ta tuy có nền văn hoá cân đối như thế, chưa có nền văn hoá nào sánh kịp, nhưng vì bị nô lệ lâu ngày phải sống trong nghèo nàn và u tối, bỏ quên mất gốc Tổ tiên, vô ý thức rước vào nhiều thứ ngoại lai thiếu chọn lọc, nên gây tai họa, nhất là nạn phân hóa, vì “ Dị khí tương thù “. Bỏ xa gốc Tính tương cận ( Tình người ) của cha ông mà theo sát “ Tập tương viễn” của các nền văn minh khác nên gây ra Dị khí mà tương thù.
Nền Văn hoá này có một chủ đạo Hòa để đoàn kết toàn dân, và có đủ phương thế thuận Thiên lý ( Dịch lý ) để giúp cho mọi cơ chế xã hội được tiến bộ và trường tồn. Phải làm sao cho các cặp đối cực trong các cơ chế xã hội luôn được cân bằng thì xã hội mới ổn định được .
Điều này rất đáng cho chúng ta phải quan tâm phục hoạt lại nền Văn hoá thái hòa mà vươn lên vực dậy. Ngày nay người ta đang giải quyết vấn nạn con người và xã hội bằng cách chạy quanh các hiện tượng rối ren của các cơ chế xã hội, chẳng khác nào đem dầu cù là mà chữa bệnh nội thương, mà không quan tâm sửa chữa nan đề con Người và Xã hội từ bản chất, đó là con người bất Nhân và xã hội bất Công. Nếu chỉ sửa hiện tượng, thì khi sửa được hiện tượng này, các hiện tượng rối ren tinh vi hơn khác lại xuất hiện, xã hội lại càng rối ren hơn, càng sửa lại càng sai. Người ta đang cố tâm lấy một số tiến bộ về vật chất để lấy thúng úp voi, cái thúng ( vài tiến bộ vật chất ), úp con voi ( khủng hoảng Tâm linh ) chắc là không ổn, vì lấy cái hữu hạn ( của vật chất ) để che đậy cái vô biên ( của Tâm linh ) thì rõ là “ Dã tràng xe cát biển Đông”!. Bao lâu con người còn giữ mầm Hận thù trong đáy lòng, lòng còn chất chứa đầy Tham, Sân, Si, thì con người không ngừng gây ra bất công xã hội, hậu quả là muôn đời con người vẫn khổ đau và đau khổ! Do vậy mà càng sửa thì càng sai, càng sai lại càng không thể sửa, nên cứ chạy quanh và chạy lộn vòng! Cây đũa thần là mọi người phải sống thuận theo Thiên lý, chứ không thể chỉ có sống một chiều “ Duy Lý “ mà Thượng hạ giao tranh lợi. Có “ Thị trường chung” mà không có “ Đạo trường chung” làm cái thắng để giữ thăng bằng, thì khuynh hướng đi một chân của thế giới không chóng thì chầy sẽ gặp đại khủng hoảng ở cấp hoàn vũ.
( 1 ): Thái cực viên đồ cũng cho ta hình ảnh của một nguyên tử trung tính ( Cân bằng ), có cái nhân ( Tĩnh ) mang điện tích Dương ( + ) và điện tử ( Động ) mang điện tích Âm ( - ).
( 2 ): Theo Thái cực viên đồ thì Âm trung hữu Dương căn và ngược lại. Do đó mà người Đàn Ông có Thể lả Dương ( + ), nhưng Diện lại Âm ( - ), còn Người đàn bà có Thể là Âm ( - ) nhưng Diện lại là Dương ( + ) . Hai ion - và + cuốn hút nhau , nên Đối cực Trai Gái dễ kết hợp thành Một.
( Trich trong cuon “ Dao Ly Xu the “ ) |