Viện An Việt Triết gia Việt Nam- Lương Kim Định (1914- 1997) để lại hàng chục cuốn sách giá trị, giúp định hướng cho sự phát triển của dân tộc và nhân loại trong kỷ nguyên mới như: Triết lý Đông- Tây, Gốc rễ triết Việt, Thái bình minh triết, Hồn nước với lễ gia tiên, Khổng Tử, Kinh Dịch, Trống đồng Đông Sơn… và một lời tiên tri: “Đạo mất trước, nước mất sau.” Kim Định xác định “Minh triết là Đạo tức là con đường hướng dẫn con người đến hạnh phúc”. Nền tảng của Minh triết là: Thái hòa, Nhân chủ, Tâm linh.
Trung tâm nghiên cứu minh triết (Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam) với đề tài nghiên cứu “Minh triết trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam- những vấn đề cơ bản”, bước đầu thu hút sự tham gia của các học giả trong, ngoài nước.
"Đông Sơn là một biểu hiện hoàn chỉnh thuộc thời tiền sử và cổ sử ở giai đoạn đồng thau". Đó là một trong những câu đã làm tôi khám phá ra Thái Bình Dương như cái nôi của nền Văn Hóa cổ sơ và lớn lao hơn hết của loài người, nên cũng là một nền "Minh Triết" trung thực, tức là khoa dậy con người sống sao để được hạnh phúc cho mình và cho mọi người, là khoa hiện thiếu cho con người, nên nghiên cứu về Minh Triết Thái Bình dương cũng là nối triết học vào với Minh Triết, để có thể ra hướng dẫn cuộc đời.
Vì phần lớn giới Trí Thức Việt Nam hôm nay vẫn nhìn Văn Hóa VIỆT dưới lăng kính các Phạm Trù của Văn Hóa TÂY PHƯƠNG, do đó giống như phần trình bày trên đây cho thấy là có tác giả chỉ xem Huyền Sử như là Sử Ký hoặc có trường hợp người ta nhìn Nho Giáo dưới hình thái của một Ý Thức Hệ hay như trong bài sau đây, dưới danh xưng là “thuyết Tam Tài” nhưng trong thực tế bài viết có vẻ mang nội dung của loại Biện Chứng Pháp Duy Tâm kiểu HEGEL hay Duy Vật kiểu MARX hoặc “cái gì khác” chứ có vẻ KHÔNG thực sự là Thuyết TAM TÀI Chính Hiệu!
Minh là làm sáng tỏ. Triết là Triệt, tức là đi đến tận cùng của thiên và địa tức cả trời lẫn đất. Nền tảng của Minh Triết là Âm Dương với cơ cấu Tam Tài thành ra Ngũ Hành, đem áp dụng vào đời sống qua Hồng Phạm Cửu Trù. Không nắm vững hay không hiểu được cơ cấu này thì không hiểu được Minh Triết.
MINH TRIẾT VIỆT là “túi khôn” mang tính đặt thù Việt mà lối dẫn vào nó không bằng ngôn tự (lời nói và chữ viết) mà bằng một ngôn ngữ đặt biệt, gọi là “triết tự văn hóa” như Kinh Tổ Tiên Chánh Giáo Đại Đạo Sinh Tồn Kinh Tổ Tiên Chánh Giáo Đại Đạo Sinh Tồn viết: “Kinh Châu Dương Việt hai miền Triết tự văn hóa lưu truyền sử xanh”. Cái “túi khôn” nầy được biết như là quyển Sách Ước truyền dòng (sách ước gì được nấy): “Sách Ước trinh nguyên không một chữ. Gậy thần đốt trúc có hai đầu” (Huyền thọai sách Ước)
Khi đọc hai bài về Minh Triết của Tiến Sĩ Hoàng Ngọc Hiền, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm nghiên cứu của Minh triết Việt tại Hà Nội được tải trên đài BBC. Ông có nhã ý mời anh em An Việt góp phần tham gia, chúng tôi cũng xin mạo muội góp đôi lời thô thiển:
Theo Triết gia Kim Định thì :
“ Minh Triết là nghệ thuật sắp xếp mọi việc làm sao để đem lại hạnh phúc cho chính Mình và Mọi Người “. Chúng ta hảy đi vào ít nét về Việt Nho và triết lý An Vi của triết gia Kim Định để xem những thứ đó có đóng góp được gì cho nền Minh triết Việt không?
Một nền văn hoá có thể định tính theo cảnh vực xuất hiện của nó . Theo Đạo lý Cổ Việt có ba cảnh vực là: Trời, Đất, Người.
Nói Trời là khi văn hoá đặt nền trên những tin tưởng vào Trời, thí dụ xã hội Ấn xưa phân cia người trong xã hội làm nhiều đẳng cấp tuỳ theo người ấy sinh ra do Brahma hay không, nếu không thì là Nô lệ, còn có thì là người Tự do, cao thấp tuỳ: Nếu sinh ra bởi Miệng Brahma thì làm Tănglữ giảng đạo, nếu sinh ra bởi Cánh Tay thì làm quân nhân, sinh ra bởi Bụng thì là Tư bản giàu có, sinh ra bởi Chân thì làm thủ đà la ( sudra ) nông công vi bản.
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh
Tôi người vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như yêu người người em gái.
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Hội thảo 100 năm nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh vừa diễn ra tại Quảng Ngãi với nhiều tham luận của các nhà khảo cổ trong và ngoài nước, nhằm tìm kiếm cũng như khai thác các chứng liệu mà các di chỉ cũng như hiện vật của nền văn hóa Sa Huỳnh để lại.
Nhân việc chính Cục Điều Tra Dân Số của chính phủ liên bang Mỹ ghi nhận là cộng đồng của bà con người Việt ta tại Hoa Kỳ đã có những "phát triển tích cực và thành đạt đáng kể", dưới đây Lẩm Cẩm xin liệt kê một số thành công của bà con ta ở Mỹ:
Theo Bộ Thương Mại Hoa Kỳ thì đã có hơn 300 người Mỹ gốc Việt có ít nhất là 3 bằng sáng chế mỗi người. Riêng Kỹ sư Đoàn Chính Trung, hiện là một trong những phó chủ tịch của Micron Corporation ở thành phố Boise thuộc tiểu bang Idaho, đã được cấp tới 132 bằng sáng chế.
Để hiểu rõ danh từ Giáo dân hơn, ta liên hệ tới danh từ Nhân Dân:
Nhânthuộc lãnh vực cá nhân, Dân thuộc lãnh vực công thể.
Nhân giả Nhân dã : Nhân là Người phải có Đạo Nhân. Để có lòng Nhân thì phải tu theo Ngũ thường.
Dân là người công thể phải thi hành Đức Nghĩa tức là lẽ Công bằng tương đối trong xã hội. Mọi người phải cư xử theo Ngũ luân tức là lẽ Công bằng để sống hòa với nhau trong mọi nơi mọi lúc để an vui với nhau.
Trích tin trong nước: Xây dựng công viên Văn Miếu đương đại: “Công viên Văn Miếu đương đại đậm đà nét dân tộc và thời đại được coi là hạt nhân của Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn di sản tiến sĩ VN”
- PGS.TS Nguyễn Văn Huy, giám đốc chuyên môn của Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn di sản tiến sĩ VN, khẳng định như vậy tại hội nghị khởi động dự án diễn ra ngày 27-9 ở Hà Nội.
Trong bài viết Người Việt: Những Đức Tính Tốt và Xấu phổ biến trên các diễn đàn vào ngày Mùng 4 Tết Kỷ Sửu 2009 tôi đã đưa ra 10 tính xấu cũng như 10 tính tốt của người Việt Nam. Nay tôi xin trở về với kho tàng văn hóa dân gian của dân tộc tức Tục Ngữ và Ca Dao để tìm hiểu những tính tốt mà những đức tính này không phải chỉ là nền tảng cho sự thành công của cá nhân người Việt mà còn giúp cả cộng đồng, đất nước chúng ta:
Ở nước Mỹ có những nơi người ta không có thó quen khóa cửa xe khi đậu ngoài đường ban đêm. Tại Brattleborrough, tiểu bang Vertmont, khi tôi cẩn thận khóa cửa xe trước khi vào nhà, người bạn Mỹ cười: “Anh vẫn làm như ở thành phố lớn nhỉ?”
Dịch Trung Quốc có hai học phái quan trọng,một phái lấy Tượng Số,một phái lấy Nghĩa lý để giải thích Kinh Dịch.Đầu đời Tây Hán ,Chu Vương Tôn,Đinh Khoan,Dương Hà kế thừa những thể lệ cũ thời Tiên Tần như quái biến,hổ thể … để giảng Dịch.Từ giữa thời Hán trở đi,Mạnh Hỷ,Tiêu Cống,Kinh Phòng lại đề xướng các thuyết quái khí,thế ứng,phi phục khiến cho cái học Tượng Số trở thành thuật chiêm đoán âm dương tai dị
Bài viết "Bụt hay Phật?" phần 1 giới thiệu khung cảnh tổng quát về cách dùng các từ Bụt và Phật trong các ngôn ngữ Đông Nam Á. Ta có cơ sở rất vững chắc để kết luận rằng Bụt là dạng âm (thượng) cổ của Phật; Phật là âm Hán trung cổ nhập ngược (back-loan) vào tiếng Việt có hệ thống cũng như đa số các từ Hán Việt khác. Các dạng (cổ) phục nguyên của âm Phật Hán Việt hay fú Bắc Kinh đều rất gần dạng *put hay *but : như theo các GS Axel Schuessler (“ABC Etymological Dictionary of Old Chinese” 2007), William Baxter (*pjut, 1992), E. G. Pulleyblank (EMC, 1991), W. South Coblin (ONWC) ...
L.T.S.: Tập đoàn CSVN đã và đang tiếp tay Trung Cộng vận động, cưỡng ép xây miếu thờ Khổng Tử ở làng xã phá nát cơ cấu làng xã, thui chột tinh thần dân tộc người dân ở thôn quê; lập viện Khổng Học để Tàu hóa tim óc giới trí thức Việt Nam; gởi cán bộ văn hóa sang Trung Quốc tu nghiệp về văn hóa Tàu (Nho giáo Tứ Thư Ngũ Kinh) để thực hiện sách lược đồng hóa người Việt thành người Tàu như dân Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng Ðông. Trung Cộng đang mở mặt trận xâm lược văn hóa ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, mà Tây Tạng là nạn nhân đầu tiên.
Xây miếu thờ Khổng Tử, lập viện Khổng Học là thiết lập đồn lũy văn hóa thành thế liên hoàn tấn công liên tục, toàn diện tinh hoa tâm thức dân tộc. Việt Nam là thí điểm trong kế hoạch bóp chết tinh thẩn bản địa của từng nhóm nhân văn trong môi trường sống hiện thực của nó, trong sách lược dùng đạo Nho của Khổng Tử, với tham vọng lãnh đạo tư tưởng thế giới (sic).
Trung Cộng chi rất nhiều tiền thiết lập trên 40 học viện Nho giáo tại nhiều quốc gia Tây phương và Bắc Mỹ với ý đồ xâm thực toàn diện văn hóa trên thế giới trong những năm tới.
Bài “Bàn về minh triết”* ghi lại buổi nói chuyện của Giáo sư F. Jullien tại Trung tâm Minh triết Việt Nam ngày 8.9.2008 gồm 3 phần. Tôi xin có đôi lời thưa lại với Giáo sư về phần thứ 3: “Minh triết và thời đại.”
Dẫn từ “sagesse” (minh triết) của Pháp ngữ và nhiều tác giả khác, F. Jullien cho ta thấy, văn hóa phương Tây có quan niệm tiêu cực về minh triết: “Minh triết là một cái gì nguội lạnh và lẩn thẩn". "Một khi Minh triết là như vậy thì nó thiếu lửa, thiếu sức sống, thiếu sức nóng, thiếu nhiệt, mà khi đã thiếu nhiệt thì nó chỉ che đậy cuộc sống, làm cho người ta không thấy được nó", "Minh triết là một thứ tro nguội lạnh, xám xịt, phủ lên lò lửa là sự sống". Một quan niệm như vậy hoàn toàn trái ngược với phương Đông. Nơi văn hóa phương Đông, minh triết ( ) thì Minh là sáng mà Triết cũng là sáng, có nghĩa hai lần sáng. Theo cach giải nghĩa khác thì Minh là sáng, còn Triết là triệt, là tận cùng, Minh triết có nghĩa cực sáng, sáng tới tận cùng! Triết còn nghĩa khác là trí tuệ. Như vậy, minh triết có nghĩa là trí tuệ sáng láng. Trong sự hiểu của tôi, Minh triết là “tinh chất bền vững của tâm hồn và trí tuệ dân tộc kết lắng trong chiều sâu nhất của văn hóa, luôn tỏa ánh sáng và sức nóng nuôi dưỡng nền văn hóa dân tộc. „
Xưa nay, nói về minh triết, người ta thường đi tìm định nghĩa hoặc dẫn ra những ví dụ về minh triết. Trong khi vấn đề quan yếu nhất, là nguồn cội của minh triết lại chưa được quan tâm. Bởi lẽ, cội nguồn minh triết nằm trong cội nguồn văn hóa. Cho tới nay, khoa học nhân văn Việt Nam chưa cho chúng ta biết về cội nguồn văn hóa dân tộc. Vì vậy, trong suy nghĩ của nhiều người, tìm cội nguồn minh triết dường như vô kế khả thi… Trong tham luận nhỏ này, tôi thử đưa ra một vài suy nghĩ ban đầu.
Từ trước tới nay, ta thường chỉ căn cứ vào những sách của Tàu, và chỉ xét Tàu từ thời Tần, Hán trở đi, với lãnh thổ rộng lớn, dân cư đông đúc, nên sự ngộ nhận có tới hàng nhiều ngàn năm, rằng Tàu là “Trung Quốc” (nước ở giữa, chung quanh là chư hầu) như họ tự phong, và Nho giáo có nguồn gốc ở bên Tàu. Nhất là với Tây Âu thì không mấy người biết về Nho, mà chỉ đồng hoá Nho với Khổng Tử, Nho là “Confucianism”.
Nhưng trước những công trình vô tư của khoa học liên ngành khảo cổ, di truyền, nhân chủng, hải dương…ngày hôm nay, thì những kiến thức trên bị coi là xưa cũ, không đúng với sự thực.
Triết Lý An Vi là công trình một đời của Cố Triết Gia Lương Kim Định, gồm 32 quyển. Nội dung của toàn bộ sách là xây dựng một Chủ Đạo Việt.
Triết Lý An Vi khai quật kho tàng Huyền Sử để rồi từ đó tìm ra cơ cấu Triết Lý của Nguyên Nho, và vẽ lại hoạ đồ quê nước để thế hệ sau khỏi bị lạc đường khi muốn trở về nguồn.
Nhận thấy chủ thuyết tư bản và cộng sản cũng chỉ là những lý thuyết kinh tế, đã thất bại trong việc mang lại tự do, bình đẳng và nhất là phẩm giá chân thực cho con người. Bộ sách Triết Lý An Vi là hướng đi Nhân Bản nhằm cứu gỡ bế tắc của tư bản hay là cộng sản. Nó xác tín lại giá trị nền tảng của con người, giới thiệu một vũ trụ quan và nhân sinh quan tiếp cận Chân Lý Toàn Diện. Đó là điều cả hai xã hội tư bản và cộng sản đang thiếu, và là nguyên nhân những khổ nạn của bao thế hệ .
Với những ước mơ tốt lành hơn cho các thế hệ đi sau, chúng tôi không ngại tài thô trí thiển, thuật lại bộ sách An Vi, dưới lăng kính hạn hẹp của mình. Những mong nó sẽ giúp phần nào cho các bạn trẻ, nếu chưa có dịp đọc toàn bộ sách, cũng nắm được tinh hoa, và nương theo phương tiện An Vi để trở về với lòng mình, cảm nghiệm Hạnh Phúc, niềm Bình An thâm sâu.
Nói về chữ "lễ" trong ca dao có rất nhiều câu để nhắc nhở con người sống "lễ" như :
Trời sinh ra kiếp làm người
Hay ăn, hay nói, hay cười, hay chơi
Khi ăn thì phải lựa mùi
Khi nói thì phải lựa lời chớ sai
Cả vui chớ có vội cười
Nơi không lễ phép chớ chơi làm gì
Người ta chỉ có thể định nghĩa mọi vật theo quy ước ngôn ngữ giới hạn qua hàn lâm tự điển, chẳng hạn như vật chất là những gì có hình tượng bên ngoài có thể nhận thấy với cảm giác, còn gọi là "nhục ảnh" như Trời, Đất, Người, v.v... đến những danh từ trừu tượng như ý, tình, chí, hay đức tính, tâm tình, với Minh Triết, v.v... Cách định nghĩa danh từ cụ thể bằng cảm nghiệm với mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, tay rờ (mò), và cả luôn bằng lưỡi liếm