Sử kí chú trọng tiểu tiết. Huyền sử chú trọng toàn cảnh. Mà toàn cảnh tìm ở những cái tế vi. Tế vi cùng với tiểu tiết đều là nhỏ. Nhưng nhỏ của tiểu tiết cụ thể khách quan, nên thu gọn. Còn nhỏ của tế vi tiềm ẩn u linh nên tỏa rộng. Vì muốn đặt nổi sự khác biệt trên nên một trong những phân biệt lớn lao của Việt nho là vòng trong và vòng ngoài. Tiểu tiết thuộc vòng ngoài, tế vi thuộc vòng trong. Chính vì đặt nặng vòng trong mà Việt nho đưa ra những đề quyết táo bạo làm sửng sốt nhiều người, thí dụ Nho nguyên thủy là của Lạc việt…
Sức mạnh của Văn Hoá có thể ngụ ý trong câu nói truyền tụng rộng rãi trong chúng ta mà ai cũng còn nhớ là “ Người làm thầy thuốc mà sai lầm thì hại một mạng người. Người làm chính trị mà sai lầm thì hại một thế hệ. Người làm văn hoá mà sai lầm thì hại đến muôn đời”.
Gần đây tôi được đọc một vài cảm nghĩ ưu tư của giới trẻ (20-45t) Việt Nam trong và ngoài nước, nói lên nguyện vọng muốn làm một cái gì cho tương lai đất nước. Nhưng thế hệ sau biến cố lịch sử 30 tháng 4 năm 1975 sinh trưởng tại quê nhà, như ai cũng biết là đã bị nhồi sọ bởi một thứ chủ nghĩa mà ngay cả kẻ đi đầu độc cũng không tin. Ngược lại, họ đã thành công khi làm cho thế hệ trẻ chán ngán đến tận cổ khi phải học mãi một thứ ý thức hệ lỗi thời, bị nhồi nhét đến phản cảm những tư tưởng cũ kỹ.
Hầu hết người Việt mình hiểu nghĩa "danh chánh ngôn thuận" với "danh" như là 'danh hiệu' với 'bảng hiệu' hay 'nhãn hiệu' hoặc 'biểu hiệu' treo trước mắt; và "ngôn" đây ai cũng hiểu là lời nói phát ra tiếng. Nên khi nói "danh chánh ngôn thuận" ở đây liền nghĩ là phải có cái danh nghĩa như kiểu "chống cộng" và phải nói sao cho thuận cho hay để thành danh ngôn như câu của cố TT Nguyễn Văn Thiệu là : "Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm !".
Đây là con đường cứu con Người, cứu Gia đình và Xã hội bằng Văn hoá của Cha ông. Cha ông chúng ta đã cảm nghiệm được Dịch lý, là chân lý ngược chiều được cân bằng, đây là nguồn gốc Thái hoà trong vũ trụ. Do đó mà cơ cấu của nền Văn hoá không những vững chắc trường tồn mà còn siêu việt nữa. Mọi người có thể sống thuận theo theo Dịch lý thì sẽ đạt hạnh phúc.
Bùa chú là một loại bí thuật trấn yểm để giúp người cầu xin đạt được ước vọng của họ, nhưng bùa chú cũng là hành vi ma thuật để hại người khi muốn trả thù hoặc triệt hạ một ai đó không vừa ý.
Tôi là kẻ không biết chút gì về ngôn ngữ học chỉ bằng cảm tính mà viết bài này , nếu có gì không đúng ...mong bạn đọc lượng thứ .
Trong bài ‘đôi điều về ngôn ngữ Việt – Hoa’ tôi đã nêu : không có từ Hán Việt mà trong khối từ vựng Việt chỉ có những từ riêng của người Việt nam và những từ dùng chung trong khối Bách Việt mà thôi .
Truy nguyên nguồn gốc bằng ngôn ngữ cho chúng ta nhiều điều bất ngờ lý thú ....
Quái từ: Khôn: Nguyên, Hanh, Lợi, Tẫn mã Chi Trinh; quân tử hữu du vãng tiên mê hậu đắc chủ lợi , Tây Nam đắc bằng Đông Bắc Táng bằng, an trinh cát.
Trong một “đơn vị” Dịch học thì Khôn luôn là phần dương (thấy) , Kiền là phần âm (không thấy) . Trong một gia đình thì Kiền là chồng, Khôn là vợ đến chuyện cực lớn là ý thức của con người thì Kiền là phần triết lý-ý chí Khôn là khoa học-lý trí , trong việc chính trị thì Kiền là lãnh đạo Khôn là điều hành hay quản lý, trong chế độ quân chủ xưa thì Kiền là hoàng đế, Khôn là tể tướng nội các….còn như chế độ hiện tại ở Việt Nam thì Kiền là bí thư Khôn là chủ tịch…
Trong chương 3 và chương 4, chúng tôi giới hạn trong các điều kiện: nhóm F1,8, Khảm-Bắc và logic số học đơn giản Hà Đồ, và tìm ra được hai đồ hình trong 40320 bát quái thỏa mãn. Đó là:
Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện được biết đến nhiều nhất trong Kitô giáo do chính Chúa Giêsu dạy, là Kinh hoàn hảo nhất trong mọi lời kinh. Kinh LẠY CHA gồm trọn mọi nhân đức: tin, cậy, mến, nhẫn nhục, phó thác, cầu xin, thống hối và từ bi.
Ta thấy rất rõ các chim, thú biểu của Đại Tộc Việt, của Hùng Vương đều là những loài sống trong địa bàn rừng mưa, vùng sông biển nhiệt đới Đông Nam Á mà ở địa bàn của người Trung Hoa cổ ở phương Bắc không có. Những chim thú ngành mặt trời này đều có tên hàm nghĩa là nọc, vật nhọn (Việt, mặt trời, có gốc từ nọc, cọc, bộ phận sinh dục nam) giống như danh xưng của tổ tiên Lang, Hùng, của nòi giống của Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời thái dương dòng giống thần mặt trời Viêm Đế (cũng giống như người Inca con cháu thần mặt trời Inti).
Báo Trung Cộng viết:
“ Lý Công Uẩn nguyên tịch Phúc Kiến, kiều cư thôn Cổ Pháp, Bắc Việt, rất được sự coi trọng của tầng lớp thống trị triều Lê, trao chức đầu nhai Điện tiền đô chỉ huy sứ, thống lĩnh cấm quân. Năm 1006, nhà sáng lập triều Lê là Lê Hoàn bệnh chết, con là Lê Long Việt, Lê Long Đĩnh lần lượt lên ngôi, nhưng hổ phụ sinh cẩu tử, quân chính đại quyền của triều Lê chưa được 4 năm đã chuyển về tay đại tướng Lý Công Uẩn
Bác sĩ Bùi Minh Đức ở California, một nhà "Huế học" tận tụy, có nêu lên "vài điểm văn hoá tương đồng giữa người Huế và người Nhật" (Chữ nghĩa tiếng Huế, NXB Thuận Hoá, 2008). Có thể mở rộng phạm vi cho người Việt, vì tôi thấy một số nhận xét của anh cũng phù hợp với vài ý kiến của tôi trong Hoa anh đào và điện tử - chân dung văn hoá Nhật Bản (1990 và 2006).
Dân tộc Việt Nam từ bao đời đã có nền văn hóa truyền thống đẹp đẻ, mến yêu, mà do hoàn cảnh lịch sử không thuận lợi đã bị chôn vùi vào lòng đất như những cổ vật quý báu, hoặc ẩn giấu trong những mảnh vụn huyền thoại , cổ vật, di tích lịch sử, hay gởi gắm qua những vần ca dao, những câu tục ngữ truyền khẩu ngắn gọn, rải rác trên khắp nẻo đường quê hương, cho nên không dễ nhận diện ra cái tổng thể là tính thể, là tinh hoa của một nền văn hóa
Chế độ cộng sản không coi giáo dục là nền tảng quan trọng của xã hội với mục tiêu đào luyên con người về cả nhân cách lẫn tri thức mà chỉ nhằm đào tạo họ thành những con người chỉ biết cúi đầu tuân phục, biết hô khẩu hiệu và biết dối trá một cách có hệ thống, biết đánh lừa người khác và biết đánh lừa luôn cả nhận thức của bản thân, vì lẽ này mà trong các xã hội do cộng sản cai trị không thể có những công dân đích thực mà chỉ có những thần dân như những con rối không hơn không kém mà thôi.
Tháng 9 vừa qua Võ Sư Chưởng Môn Lê Sáng đã đi vào cõi vô cùng để hội ngộ cùng Võ Sư Sáng tổ Nguyễn Lộc. Sự ra đi của Chưởng Môn Lê Sáng không những là một sự mất mát không gì bù đắp được đối với toàn thể môn đồ VOVINAM-Việt Võ Đạo khắp thế giới mà còn là một tổn thất lớn đối với nền võ học Việt Nam